VĂN THƠ

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế

Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.Tôi biết ông vừa từ Thành phố Hồ Chí Minh ra sau chuyến thăm gia đình người con trai đầu là Tạ Đình Hùng. Tôi kéo …

Dương Thanh Biểu
Dương Thanh Biểu

Xuất bản: 17/09/2026

Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Tôi biết ông vừa từ Thành phố Hồ Chí Minh ra sau chuyến thăm gia đình người con trai đầu là Tạ Đình Hùng. Tôi kéo ghế ngồi đối diện với ông qua cái bàn nước nhỏ được kê ngay ngắn trong góc căn phòng không rộng lắm. Nhìn ông, tôi thoáng thấy dạo này nước da ông bớt xanh và hơi ngăm ngăm, dáng nhanh nhẹn, hoạt bát hơn trước. Đôi mắt ông vẫn tinh anh như xưa. Ông vẫn đội chiếc mũ phớt nhàu nát, bộ ria mép bạc màu được ông cắt tỉa gọn gàng.

Theo hẹn, trước khi đến đây, tôi nghĩ, không hiểu khi gặp ông nên xưng hô như thế nào cho phải phép. Tôi nhẩm tính, năm chín hai này ông đã bảy nhăm, còn tôi mới bốn ba. Ông hơn tôi những ba mươi tuổi. Tuổi tôi cũng suýt soát tuổi con đầu của ông nên gọi bác là đúng lẽ. Nghĩ vậy, tôi chào ông bằng bác và xưng cháu.

Nghe tôi chào như vậy, ông lắc đầu, nhìn tôi:

- Cứ xưng ông với tôi cũng được. Năm nay mình đã hơn bảy nhăm, có gần tiểu đội cháu nội, ngoại rồi còn gì.

Nghe ông nói vậy, tôi nhìn ông cười:

- Xin cảm ơn ông.

Ngoài trời, cơn mưa hè xối xả như trút nước. Một lúc sau, con hẻm trước nhà ông, nước mưa đã dâng đầy ngập bàn chân. Tiếng nước mưa dội xuống mái nhà, lợp giấy dầu, nghe lộp bộp, lộp bộp.

Thấy ông cho chè vào ấm rồi nghiêng phích rót nước vào. Một chốc sau, mùi chè Thái ngạt ngào bốc lên làm cho cả gian phòng phả hương thơm ngan ngát, béo ngậy. Tranh thủ chờ chè ngấm, ông xoay cái điếu bát về phía mình. Ông lấy que gạt tàn thuốc, nhét bi thuốc lào vào nõ điếu. Ông bật diêm, đưa xe điếu vào nõ, châm lửa. Ông nhấp nhấp vài ba lần nghe "choác... choác... choác", rồi lây hơi, kéo một mạch dài. Gân cổ ông nổi lên cuồn cuộn. Cái điếu bát reo lên sòng sọc, rộn ràng. Ông ngửa cổ nhả khói. Một làn khói dài, trắng xanh từ miệng ông, bay lên tận trần nhà rồi tỏa khắp gian phòng. Đôi mắt ông lim dim nhìn làn khói xanh, vẻ khoan khoái. Ông rót nước đầy hai chén và đẩy chén nước sang phía tôi:

- Mời ông xơi nước.

Mùi chè Thái bốc lên thơm ngào ngạt. Tôi nhấp ngụm nước trà thơm nhìn ông. Tôi cảm thấy rất vui vì hẹn nhiều lần nhưng hôm nay ông mới chấp nhận tiếp tôi. Tôi có đặt vấn đề về nội dung, ông ủng hộ. Nhưng về địa điểm, đã mấy lần tôi đề nghị gặp nhau ở quán cà phê gần nhà ông để nhâm nhi cho vui thì ông lắc đầu:

- Mình có cà phê, cà pháo gì đâu, rượu bia cũng không nốt. Chỉ nghiện mỗi thứ, đó là thuốc lào.

Nghe ông nói, tôi thầm nghĩ, nghiện thuốc lào mà không ghê à, "nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên". Rồi, ông “chốt:” ý kiến dứt khoát theo kiểu con nhà lính:

- Thế này nhé, địa điểm gặp nhau tại nhà tôi, số 106, nhà A3, ngõ 221, đường Lê Duẩn, Đống Đa, Hà Nội. Thời gian vào ngày chủ nhật. Nếu ngày thường mà rỗi thì có thể gặp nhau, nhưng phải thông báo trước. Dạo này bạn bè, đồng đội ngày trước hay tụ tập nhau để “ôn nghèo gợi khổ” nên cũng bận.

Thôi, giời không chịu đất thì đất phải chịu giời vậy. Đúng hẹn, hôm nay chúng tôi gặp nhau tại căn nhà lợp giấy dầu nhưng rất ấm cúng, của ông.

Ngồi đối diện với ông qua bàn nước, nhìn ánh mắt tinh anh và trìu mến, giọng nói bổ bả, tôi thầm nghĩ, là thần tượng lâu nay của nhiều người nhưng hôm nay trông ông thật thà như người nông dân “xứ Đoài” pha chút lãng tử của chàng trai Hà thành. Sự thông minh và dũng cảm trong chiến đấu chống quân thù của người chiến sĩ tình báo đã tạo nên chất huyền thoại của ông trong chiến tranh. Khi về với đời thường, Tạ Đình Đề lại là người khiêm tốn, giản dị, chu đáo. Qua câu chuyện, tôi biết ông rất ít kể về mình, nhất là những mẫu chuyện huyền thoại mà nhân dân hay kể về ông. Vì vậy, tôi không hỏi về cuộc đời huyền thoại trong chiến tranh của ông như nhiều tờ báo đã có dịp đăng tải. Tôi chỉ muốn ông kể sâu hơn, kỹ hơn về các tình tiết và những tâm trạng, cảm xúc trong thời gian vướng vào vòng lao lý.

Trước đây, mỗi khi nghe kể chuyện về ông Tạ Đình Đề, tôi cảm nghĩ ông là người nổi tiếng nên rất khó gặp. Hơn nữa, gặp ông để hỏi về những suy nghĩ của mình trong thời gian vướng vào vòng lao lý, rất có thể không được ông chấp nhận. Biết được khó khăn như vậy nên tôi cũng chuẩn bị lựa lời thưa chuyện như thế nào đó để ông có thể chấp nhận. Nhưng khi gặp ông, tôi thật bất ngờ về sự đón tiếp, cởi mở, gần gũi, giản dị và hiền hậu của ông đến thế!

Hy vọng, với phương pháp tiếp cận kiểu này may ra mới khai thác được những sự kiện và con người, qua đó thấy được rõ thêm những góc khuất cuộc đời trong thời gian vướng vào vòng lao lý mà nhiều người đang quan tâm.

Tuy nhiên, nên bắt đầu như thế nào để ông đồng cảm với suy nghĩ của mình. Tôi biết ông là người rất mực thương yêu, quý trọng vợ, con. Nên chăng, mình bắt đầu từ lá thư của bà Thọ, vợ ông gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trước khi vụ án được xét xử. Nghĩ vậy, tôi nhìn ông nở nụ cười:

- Trong lá thư của bà Thọ, gửi quý Tòa có đoạn viết, đại ý: Khi ông Đề được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý Xưởng dụng cụ, mặc dù năng lực có hạn nhưng ông Đề đã không quản khó khăn vất vả, dám nghĩ, dám làm, cái gì có lợi cho đơn vị, cho Nhà nước thì mang hết sức mình ra cống hiến. Vậy xin ông nói cụ thể hơn về ý kiến này của bà Thọ?

Nghe tôi nhắc đến tên bà Thọ, hai mắt ông rưng rưng nhìn xa xăm. Đoạn ông quay lại bàn, rít hơi thuốc lào, ngửa cổ nhà khói. Ông nhìn tôi, gật đầu:

- Năm 1954, Hà Nội được giải phóng, hòa bình lập lại. Trong không khí rộn ràng hân hoan ấy, tôi cứ tưởng được cống hiến hết cuộc đời vì sự nghiệp tình báo của Quân đội. Nhưng nào ngờ, sau đó không lâu, tôi được chuyển ngành về Tổng cục Đường sắt Việt Nam([1]). Đây là công việc không liên quan gì đến chức năng của nhà binh nhưng ít nhiều đã từng gắn bó một thời với tôi từ lúc còn niên thiếu ở Vân Nam Trung Quốc. Cũng lúc này, nhà tôi, bà Đặng Thị Thọ, cũng được chuyển về công tác tại Vụ Tài vụ, Tổng cục Đường sắt.

Nhận công tác một thời gian, tôi được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt lần lượt giao các nhiệm vụ: lúc đầu, được cử làm Trưởng đoạn Đầu máy Hà Nội; năm 1956, phụ trách công tác thể dục thể thao Tổng cục Đường sắt; năm 1971, được giao nhiệm vụ phụ trách Xưởng dụng cụ (chuyên sản xuất vợt bóng bàn, kiến thiết cơ bản, sản xuất gioăng cao su và một số mặt hàng cao su khác phục vụ Ngành). Trong đó, mặt hàng chủ lực của Xưởng là vợt bóng bàn, gioăng cao su, các bát đệm cao su cho xe lửa... Tính tôi thích làm những việc mới mẻ và có thách thức, lại được cấp trên tin tưởng giao, nên khi nhận nhiệm vụ này, tôi thật sự phấn khởi.

Từ giữa thập niên 1960, đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc hết sức khốc liệt. Đường sắt Việt Nam là trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay Mỹ. Những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh chị em Xưởng dụng cụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tuy đời sống vật chất thiếu thốn trăm bề và cũng căng thẳng nhưng tinh thần lao động vì chủ nghĩa xã hội, vì thống nhất đất nước vẫn sục sôi, nhiệt huyết hơn bao giờ hết.

Kể đến đây, ông nhấp ngụm nước rồi tiếp tục câu chuyện:

- Tuy thế, khi nhìn vào sức sản xuất của Xưởng dụng cụ, có lúc tôi cảm thấy băn khoăn, lo lắng. Hòa bình mới được một thời gian, sản xuất đang từng bước phục hồi thì đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc hết sức ác liệt. Công xưởng, máy móc, thiết bị của Xưởng dụng cụ không chỉ thiếu trầm trọng mà còn vô cùng lạc hậu. Với máy móc, thiết bị như vậy, làm sao đơn vị bứt phá vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch mà cấp trên đã giao? Tôi ước mơ có phép màu nào đó, xưởng chúng tôi có máy móc hiện đại, để anh, chị, em công nhân vận hành hết công suất, hàng hóa làm ra nhiều và tinh xảo hơn.

Tạ Đình Đề dừng lại, kéo mạnh một hơi thuốc lào, thả khói lên trần nhà rồi tự dưng trầm ngâm hẳn. Nghe ông nói vậy, tôi trộm nghĩ, có lẽ, câu hỏi của thời quá khứ vẫn còn treo lơ lửng trong tâm thức ông. Ông đang ngược dòng thời gian để trở về với những năm tháng đã qua chăng? Đây là thời kỳ chúng ta đang thực hiện cơ chế' “kế' hoạch hóa”, “tập trung, bao cấp”. Cơ chế này tuy đã phục vụ có hiệu qủa yêu cầu của thời chiến, bảo vệ hậu phương lớn, chi viện kịp thời cho tiền tuyến lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Nhưng theo câu chuyện của ông thì cơ chế ấy đã để lại nhiều hậu quả nặng nề và cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩ vậy, tôi nhìn ông hỏi:

- Tôi đã nghiên cứu kỹ Bản án sơ thẩm xét xử ông, trong đó có nhận định: Nhìn lại toàn bộ hoạt động của Tạ Đình Đề trong những năm 1971-1974, đi đến kết luận như sau: Thấy việc gì có lợi cho đơn vị mình phụ trách thì bất kể là móc ngoặc, xin nhượng, mua bán đổi chác... là tiến hành. Thấy mặt hàng gì có khả năng dùng được thì tung tiền ra mua kỹ thuật về sản xuất([2]). Ông có thể nói cụ thể cảm nghĩ của mình về nhận định trên của Hội đồng xét xử?

Tay xoay xoay chiếc điếu bát đã lên nước bóng loáng, ông nhìn tôi vẻ hào hứng, gật đầu:

- Vào những năm đầu của thập kỷ 70, máy bay Mỹ ném bom miền Bắc rất ác liệt. Các ga xe lửa là trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ. Trong một số chuyến đi công tác, tôi thấy cảnh tàn phá tại các ga xe lửa do bom đạn Mỹ gây ra thật kinh khủng. Tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng, nhiều phương tiện, máy móc bị bom đạn Mỹ bắn phá nằm lăn lóc, rải rác khắp nơi, trong đó có cái còn sử dụng được. Mấy ngày sau đó, tôi cùng một số anh em kỹ thuật đơn vị lên đường đi khảo sát thực tế tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng. Theo anh em kỹ thuật, tại những nơi chúng tôi đi nghiên cứu, còn nhiều dụng cụ máy móc chỉ cần gia công thêm một số chi tiết là có thể sử dụng được. Chúng tôi còn phát hiện, có rất nhiều máy móc, thiết bị của nước ngoài được nhập về chưa sử dụng, nằm phơi nắng, phơi mưa. Chúng tôi thấy có nhiều máy móc bị địch bắn phá hư hỏng nhưng có khả năng sửa chữa, phục hồi để trở thành các phương tiện hữu ích cho Xưởng dụng cụ.

Sau chuyến đi khảo sát ấy, nhiều đêm liền tôi trằn trọc không sao ngủ được. Hình ảnh các cổ máy đang nằm lăn lóc dưới tầm bom đạn, hàng ngày phơi sương, phơi gió ngoài cảng, ga xe lửa cứ hiện lên trước mắt tôi. Tôi ước mơ các phương tiện máy móc đó được chuyển về đơn vị và dưới bàn tay lao động của anh em công nhân nó sẽ được sống lại để sản xuât ra của cải vật chất cho đất nước. Sau đó tôi trực tiếp báo cáo đồng chí Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Tổng Cục trưởng nhìn tôi, gật đầu:

- Tôi hoàn toàn nhất trí. Tài sản để phơi sương, phơi nắng là vậy nhưng để giải quyết theo đề xuất của các đồng chí cần phải liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Các đồng chí làm công văn tôi ký gửi xin ý kiến đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Tổng Cục trưởng Tổng cục Hậu cần…

Nghe vậy trong bụng tôi như có trống giong cờ mở, vui lắm. Không chần chừ thêm chút nào, tôi xin phép đồng chí Tổng Cục trưởng ra về để triển khai cho anh em thảo công văn gửi các cơ quan nhà nước có thẩm như Bộ trương Bộ Giao thông vận tải Dương Bạch Liên, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện để báo cáo, xin ý kiến. Chúng tôi rất vui mừng vì những đề xuất của đơn vị được các đồng chí lãnh đạo trên đây ủng hộ. Sau đó, những thiết bị vật tư đó được vận chuyển về Xưởng dụng cụ.

Ngồi nghe ông kể, tôi thầm nghĩ, ông Đề quả là người dám nghĩ, dám làm như người lính dũng cảm xông pha trận mạc năm xưa, nay đang “tả xung hữu đột” trên mặt trận kinh tế. Với lòng nhiệt huyết và trách nhiệm cùng trí thức và máy móc công cụ, ông Đề đã cùng cộng sự giải quyết được cơ bản về phương tiện sản xuất cho đơn vị. Nhưng tôi có chút băn khoăn, có máy móc rồi, còn con người sử dụng các cỗ máy ấy thì sao? Đây là thời kỳ thực hiện cơ chế bao cấp, con người làm việc cầm chừng. Có người ví cung cách làm việc lúc đó “lớ ngớ như gà công nghiệp”. Trong điều kiện đó, không hiểu ông Đề đã có biện pháp gì để kích thích người lao động hăng hái sản xuất?

Nghĩ đến đây, tôi nhớ bản cáo trạng số 899/XH ngày 04/07/1975, truy tố ông Đề có liệt kê một loạt các hành vi phạm tội cố ý làm trái. Trong đó có hành vi chi thưởng cho người nào có sáng kiến, cải tiến, chi mua kỹ thuật, chi tiếp khách, chi bồi dưỡng và chi thưởng cho mỗi cán bộ, công nhân viên của Xưởng dụng cụ, mỗi người 1/2 tháng lương, với số tiền: 10.000 đồng... Theo quan điểm của cơ quan truy tố, đó là hành vi phạm tội cố ý làm trái. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông:

- Trong bản cáo trạng truy tố ông về tội cố ý làm trái, với lý do ông chi tiêu sai nguyên tắc trong đơn vị. Ông có thể kể chi tiết hơn về nội dung này?

Ông nhấp ngụm nước, nhìn tôi gật đầu:

- Vào thời điểm ấy, nhiều công nhân trong đơn vị chúng tôi không mặn mà với công việc được giao. Tình trạng “chân ngoài dài hơn chân trong” đang xảy ra phổ biến không chỉ đối với cách suy nghĩ và hành động của công nhân Xưởng dụng cụ mà còn xảy ra trong nhiều đơn vị kinh tế khác. Tình hình trên đã tác động đến tinh thần làm việc, dẫn đến sản xuất trì trệ, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Đời sống của tuyệt đại bộ phận cán bộ công nhân viên trong đơn vị rất khó khăn... Trong tình trạng sản xuất của đơn vị đi xuống như vậy, tôi cảm thấy ăn không ngon, ngủ không yên. Nhiều lúc cứ trằn trọc, băn khoăn, nghĩ mãi cách tháo gỡ tình trạng trì trệ trong đơn vị mà chưa có cách nào. Hễ nằm xuống giường, bắc tay qua trán, dù buổi trưa ở cơ quan hay lúc về nhà, hình ảnh người công nhân phải chịu cảnh khó khăn về đời sống hiện lên rõ mồn một trước mắt tôi. Xót xa lắm chứ! Nhiều lúc thấy anh em công nhân phải nghỉ việc để “đi đánh ngoài”, tìm cái ăn cho vợ, con nhưng cũng không cải thiện được kinh tế bao nhiêu nên tôi thấy càng thương anh em, càng thấy trách nhiệm của người lãnh đạo như mình trước anh em. Có hôm vào thăm anh em công nhân đang nghỉ trưa, ăn cơm. Tôi quặn lòng khi nhìn vào cặp lồng cơm của họ. Có gì đâu ngoài vài lưng cơm độn mỳ, có người cơm độn sắn, độn khoai và rau muống luộc. Người nào khá hơn một chút thì may ra có vài miếng đậu phụ rán cháy cạnh... Nhìn cặp lồng cơm đạm bạc, nét mặt người thợ nào cũng xanh xao, bơ phờ, mắt tôi tự nhiên rưng rưng. Những lúc đó, tôi phải quay mặt đi nơi khác, tránh ánh mắt của anh em để che đi nỗi xúc động trào dâng trước hoàn cảnh khó khăn của anh chị em đồng nghiệp thân yêu. Nhìn cuộc sống cơ cực của anh em người thợ, tôi tự hỏi: Tại sao đất nước đã thống nhất, hòa bình đã được lập lại mà cái ăn, cái mặc cho anh em công nhân vẫn không đủ?

Là người lãnh đạo, tôi cảm thây mình chưa hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên được anh em tin tưởng giao cho và thật sự có lỗi với anh em công nhân. Từ suy nghĩ vậy, tôi đã cùng anh em tìm mọi cách để vực dậy đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân.

Trong buổi giao ban lãnh đạo đơn vị, tôi đã phát biểu và nhận mình là người có lỗi lớn nhất trước sự vất vả trăm đường của người thợ. Cũng trong buổi giao ban này, tôi đã cùng tập thể lãnh đạo hạ quyết tâm đoàn kết, tìm mọi cách để vực dậy sức sản xuất của đơn vị.

Kể đến đây, ông với tay vê vê thuốc lào cho vào nỏ điếu, châm lửa. Ông nhấp môi “choác, choác, choác” ba lần rồi kéo hơi dài. Cái điếu bát kêu sòng sọc. Ông ngửa cổ nhả khói lên trần nhà vẻ khoan khoái. Nhìn ông bắn thuốc lào, tôi thầm nghĩ, năm tháng túng thiếu, gian khó ấy đã qua rồi, xa rồi mà nghe giọng ông kể vẫn còn nghèn nghẹn, có lúc rưng rưng. Hình như ông dừng kể để bắn thuốc lào cũng là cách giải tỏa nỗi xúc động của mình chăng? Bắn thuốc lào xong, ông nhấp ngụm nước, nhìn tôi kể tiếp:

- Tôi không thể chối bỏ trách nhiệm của người lãnh đạo trước cuộc sống quá ư khó khăn của công nhân. Cổ nhân đã dạy: “Có thực mới vực được đạo”. Cái bụng của anh em công nhân chưa no thì đừng nói chuyện động viên chung chung được. Đã bao lần bàn bạc trong tập thể đơn vị cũng như bao đêm vắt óc suy nghĩ tìm cách làm cho cái “bụng” của anh chị em công nhân được no hơn, mặc ấm hơn mà cũng chưa tìm ra giải pháp. Trước tình đó, Xưởng dụng cụ đã xuất hiện có người xin nghỉ phép để đi chạy chợ, buôn bán, thêm thắt đồng ra đồng vào cho gia đình nhưng cuối cùng đều bị phá sản vì vướng vào cơ chế: chỉ Nhà nước mới được tiến hành lưu thông, phân phối. Hồi đó, những hàng hóa không phải của ngành thương nghiệp Nhà nước thì đều coi là hàng lậu. Do vậy, đâu đâu cũng mọc lên các trạm kiểm soát gắt gao để “ngăn sông cấm chợ”. Chính vì vậy mà gạo, thịt, bánh kẹo, bột giặt, áo quần, mũ dép... đều có thể là hàng lậu ở bất cứ nơi nào, lúc nào. Còn việc khai hoang trồng trọt, chăn nuôi thì ở Hà Nội lấy đâu đất mà làm.

Kể đến đây, ông dừng lại giây lát, nhìn xa xăm, rồi kể tiếp:

- Đến giữa thập kỷ 60 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, miền Bắc chúng ta đã tạo được một động lực mới mẻ và vô cùng lớn lao để khích lệ mọi người hăng say chiến đấu và sản xuất. Nhưng cuối những năm 70 và trong những năm 80 của thế kỷ trước, cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp lại dựa vào ý chí chủ quan, mệnh lệnh hành chính đã làm mất đi tinh thần hăng say trong sản xuất, dần dần động lực người lao động không còn như trước nữa. Người lao động không còn hăng hái sản xuất khi thấy người làm nhiều, làm ít đều hưởng như nhau. Trong hoàn cảnh đó, không ai có thể dành thời gian lo cái chung khi vợ, con và gia đình mình còn gặp nhiều khó khăn, vất vả. Vì thế, động lực sản xuất của người lao động bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần đến đây gần như bị triệt tiêu tại nhiều đơn vị kinh tế, trong đó có đơn vị của chúng tôi. Tôi không được học hành bài bản về quản lý kinh tế nhưng từ kinh nghiệm thực tiễn, nghĩ rằng, muốn đẩy mạnh sản xuất phát triển, một trong những biện pháp quan trọng là người lãnh đạo đơn vị phải biết tận dụng và khơi dậy động lực vốn có của người lao động. Động lực đó chính là lấy lợi ích vật chất để khuyến khích tinh thần say mê làm việc của anh chị em công nhân. Đồng thời phải tạo ra cuộc sống tinh thần trong công nhân để họ phân khởi, hăng say trong sản xuất.

Sau nhiều lần trằn trọc, suy nghĩ, trong đầu tôi chợt lóe sáng ý nghĩ: phải làm thế nào để công nhân gắn bó với sản xuất, gắn bó với đơn vị, từ đó họ mới có động lực nghiên cứu, sáng kiến cải tiến, tăng năng suất lao động. Phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người công nhân tham gia các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, làm cho họ coi Xưởng dụng cụ là ngôi nhà chung của chính mình. Nghĩ thế nào là tôi làm như vậy. Tại cuộc họp cấp ủy, chính quyền và công đoàn thảo luận phương án khoán sản phẩm trong sản xuất, đại đa số ý kiến đồng ý với đề xuất của tôi. Trong buổi họp công nhân viên do Công đoàn tổ chức để thảo luận phương hướng sản xuất mới trong thời gian tới về hình thức khoán sản phẩm đến từng tổ sản xuất, đến từng người lao động với tinh thần ai có sáng kiến cải tiến thì được khen thưởng, ai tích cực hoàn thành vượt mức khoán là được biểu dương, được khen thưởng. Lúc đầu thảo luận cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Thậm chí có ý kiến đặt lại vấn đề: làm như vậy có trái với quy định không? Nhưng sau khi thảo luận dân chủ, tuyệt đại cán bộ, công nhân đều nhất trí biểu quyết thông qua nghị quyết của đơn vị: áp dụng hình thức khoản sản phẩm, khoán công việc đến từng tổ sản xuất, từng người công nhân. Nghĩa là, đơn vị của tôi không áp dụng hình thức trả lương bình quân như các xí nghiệp khác mà trả lương theo sản phẩm. Người nào có nhiều sáng kiến, cải tiến, làm được nhiều sản phẩm thì sẽ được trả lương nhiều hơn người làm được ít sản phẩm... Nếu sản xuất phát triển, quỹ phúc lợi tăng lên thì cho phép áp dụng chế độ ăn giữa ca không mất tiền, trả thêm lương tháng 13 để tạo điều kiên cho công nhân ăn Tết. Khi tiến hành phổ biến, xin ý kiến góp ý của anh chị em công nhân về chủ trương này, mọi người hào hứng và nhiệt liệt ủng hộ.

Thời kỳ bấy giờ, đây là điều vô cùng mới lạ, chưa có nơi nào làm như vậy. Có người gặp tôi lắc đầu, cho rằng quá mạo hiểm. Có lúc tôi cũng xác đinh, việc làm ăn theo cơ chế mới rất có thể bị cho là “phá rào”, không chấp hành pháp luật và rất có thể bị nguy hiểm. Nhưng hãy gạt sang một bên những gì thuộc về lợi ích cá nhân, cái lớn nhất lúc bấy giờ chính là làm thế nào cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho anh em người thợ cũng như vực dậy sự phát triển đi lên của Xưởng dụng cụ. Tuy nhiên, đây là cách làm ăn mới, nên tôi đã trực tiếp báo cáo xin ý kiến đồng chí Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn. Sau khi nghe tôi báo cáo, đồng chí Hà Đăng Ấn hoàn toàn đồng ý. Đồng chí chỉ lưu ý rằng việc chi thưởng chỉ được trích từ quỹ phúc lợi của đơn vị. Nghĩa là, chỉ khi nào sản xuất phát triển thì mới được thực hiện việc chi thưởng. Và sau đó chủ trương này được áp dụng thực hiện trong Xưởng dụng cụ.

Nghe ông kể đến đây, chợt trong đầu tôi lại vang lên lời phát biểu của ông Hà Đăng Ấn và một số nhân chứng tại phiên tòa trước đây về sự đúng đắn của việc trả lương theo sản phẩm mà Xưởng dụng cụ đã áp dụng. Những ý kiến này được nhiều người dự phiên tòa vỗ tay ủng hộ. Đó là câu chuyện ông Đề kể trước đây. Còn bây giờ tôi thấy, chủ trương khoán sản phẩm đã trở thành thành quy định của Nhà nước, là biện pháp quản lý sản xuất quen thuộc, bình thường. Nhưng vào thời điểm đó, việc hình thành ý tưởng này nó chẳng hề đơn giản chút nào nếu không muốn nói là vô cùng phức tạp. Diễn đạt theo cách nói dân gian là “bẻ nạng chống trời đó”. Với cách làm sáng tạo của mình, ông Đề đã khôi phục lại cái động lực vốn có của người lao động. Chỉ tiếc rằng, những cải tiến trong quản lý xí nghiệp của ông Đề đã đưa lại hiệu quả lớn lao như vậy nhưng lúc đó, hành vi này lại được coi là điều cấm kỵ và ông đã phải vướng vào vòng lao lý. Tôi thấy ông Đề nhìn xa xăm như đang nghĩ điều gì đó với hai mắt loang loáng nước. Khiến hai mắt tôi cũng rưng rưng vì thương cho số phận không may của ông. Tôi nhìn ông:

- Sau đó, kết quả thực hiện chủ trương này diễn ra như thế nào, thưa ông?

Ông Đề nhấp ngụm nước, nhìn tôi, kể tiếp với vẻ mặt tự tin:

- Sau một thời gian áp dụng phương thức làm ăn mới, anh em công nhân của Xưởng dụng cụ đã được trả công xứng đáng. Người lao động hăng hái làm việc, có nhiều sáng kiến cải tiến, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm của xí nghiệp có độ tinh xảo cao, cạnh tranh được với sản phẩm của nước ngoài. Chỉ tính riêng mặt hàng vợt bóng bàn do đơn vị làm ra đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Tôi còn nhớ vào thời kỳ đó, vợt bóng bàn thương hiệu made in Việt Nam do Xưởng dụng cụ sản xuất không thua kém sản phẩm nước ngoài và được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, trong đó, thị trường Liên Xô rất ưa chuộng.

Nghe ông kể đến đây, tôi gật đầu, thán phục một con người luôn nhiệt huyết với công việc đổi mới sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo công ăn việc làm cho đội ngũ công nhân. Sự say mê nhiệt huyết của ông Đề và đồng nghiệp của ông thật đáng trân trọng. Ngồi nghe ông tâm sự, tôi thầm nghĩ, vào thời điểm những năm 70 của thế kỷ trước, hàng công nghiệp của ta sản xuất ra được xuất khẩu chỉ đếm trên đầu ngón tay. Xưởng dụng cụ của ông Đề, lúc đầu chỉ là hợp tác xã sản xuất. Nhưng sau này, sản phẩm của Xưởng là vợt bóng bàn được xuất khẩu để lấy tiền mua đầu máy xe lửa cho Nhà nước thì quả là điều kỳ diệu, thật đáng thán phục. Nguyên nhân của những kết quả thành công trên đây chính là tinh thần dám nghĩ, dám làm của ông và các đồng nghiệp. Ông Đề và những cộng sự tại Xưởng dụng cụ thật sự là những người cộng sản chân chính hết lòng vì nhân dân, vì Tổ quốc. Ngồi nghe ông kể, khiến tôi không khỏi băn khoăn về ý tưởng đổi mới công nghệ - kỹ thuật của ông, dẫn tới chất lượng sản phẩm vợt bóng bàn phát triển như ông đã kể. Chờ ông hút điếu thuốc lào xong, tôi nhìn ông, vẻ tự tin:

- Trong khó khăn chồng chất của hoàn cảnh vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, không hiểu Xưởng dụng cụ của ông có bí quyết gì đặc biệt, để không những trụ vững mà còn vươn lên, vừa tăng năng xuất lao động, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm vợt bóng bàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng?

Ông nhấp ngụm nước, nhìn tôi, lấy giọng vẻ sảng khoái:

- Nhiều người cứ tưởng sản xuất vợt bóng bàn là việc đơn giản. Để cho sản phẩm vợt bóng bàn có chất lượng, được khách hàng tín nhiệm thì khâu kỹ thuật vô cùng quan trọng. Phải có những người am hiểu kỹ thuật sản xuất vợt bóng bàn. Anh em chúng tôi hồi đó thường ví họ là “kiến trức sư”. Lúc đầu, đơn vị gặp rất nhiều khó khăn và lúng túng về công nghệ, kỹ thuật. Chúng tôi hạ quyết tâm, phải tìm tòi, thu phục bằng được những người tài, có tay nghề cao trong sản xuất vợt bóng bàn để mời họ về làm việc, giúp đơn vị gỡ bí thì mới hy vọng sản phẩm vợt bóng bàn có chất lượng. Có hôm anh em về thông báo, ở Hà Nội có anh Nguyễn Văn Thi, học làm vợt bóng bàn ở nước ngoài mới về và đang sản xuất vợt bóng bàn. Vợt bóng bàn của anh Thi rất có chất lượng. Tôi mừng quá và cùng anh em đến thăm anh Nguyễn Văn Thi.

Kể đến đây, ông Đề cười sảng khoái. Tôi chưa hiểu tại sao ông lại cười. Ông bắn điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, nhìn tôi:

- Trong cái rủi có cái may. Tôi tưởng anh Thi là người xa lạ, hóa ra là bạn bè thân thiết từ thời kháng chiến. Khi gặp anh Thi, chúng tôi tay bắt, mặt mừng. Tôi còn nhớ, năm 1946, khi đang chỉ huy Đội biệt động thành Hà Nội, tôi quen và thân anh Thi chuyên bán cà phê, gọi là cà phê Nhân. Từ đó, quán cà phê Nhân của anh Thi trở thành nơi cung cấp tin tức tình báo rất hiệu quả cho Đội biệt động thành Hà Nội. Sau những lời hỏi thăm gia đình, vợ con, tôi nhìn anh, mỉm cười: hiện nay Xưởng dụng cụ đang sản xuất vợt bóng bàn nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Nghe tin anh vừa mới học nước ngoài về, có bàn tay giỏi làm vợt bóng bàn nên tôi đến đây mời anh vào đơn vị chúng tôi truyền đạt kinh nghiệm cho anh em công nhân. Tôi nói chưa hết câu thì anh Thi ôm lấy tôi, gật đầu cười hể hả: với ai còn suy tính đắn đo, chứ với anh Đề mời thì đồng ý hai tay luôn.

Từ khi ông Thi vào làm trong Xưởng dụng cụ, anh em công nhân thường nhắc đến ông Thi với cái tên trìu mến, một “chiến lược gia”, “Kiến trúc sư” của đơn vị. Đó là người đã tiên phong, đi đầu trong việc nghiên cứu, sản xuất vợt bóng bàn mà lâu nay ít người biết đến.

Với đầu óc thông minh và đôi bàn tay khéo léo của ông Thi, vợt bóng bàn do Xưởng dụng cụ sản xuất ngày càng có chất lượng. Nhiều người trong đơn vị thật sự phấn khởi khi vợt bóng bàn mang thương hiệu made in Việt Nam được khách hàng trong và ngoài nước thời đó rất ưa chuộng. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhập khẩu ngày càng nhiều mặt hàng vợt bóng bàn của Việt Nam. Xuất khẩu vợt bóng bàn ngày càng tăng, đơn vị đã thu về cho Nhà nước khá nhiều ngoại tệ.

Nhân câu chuyện này, xin trích bài báo của Trần Quang, đăng trên Tạp chí Thể thao ngày 11-02-2013 kể về mối cơ duyên giữa Tạ Đình Đề và ông Nguyễn Văn Thi: "Ít người biết rằng ông và một người bạn đồng tuế Nguyễn Văn Thi đã cùng nhau khai sinh ra thương hiệu độc đáo của thể thao Việt Nam một thời, đó là những chiếc vợt mút (mousse) “made in Đường sắt Việt Nam”, một sản phẩm từng có giá trị xuất khẩu cao trên trường quốc tế. Trong vở kịch “Tôi và chúng ta” nổi tiếng một thời, Lưu Quang Vũ đã lấy nguyên mẫu về chất liệu từ Tạ Đình Đề và Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt.

Tạ Đình Đề và Nguyễn Văn Thi cùng sinh năm 1917, quen thân nhau từ sớm. Họ nhanh chóng và tự nguyện đến với cách mạng và từ năm 1946, cùng với dòng người Hà Nội đi tản cư, ông Thi đã mở quán cà phê lây tên là cà phê Nhân tại Nho Quan, chợ Đại, Cống Thần để làm cơ sở liên lạc. Đội trưởng Tạ Đình Đề và Thiếu tướng Hoàng Sâm đã nhiều lần đến cửa hàng này để nghe báo cáo về tình hình hoạt động của quân địch. Từ đó, cứ sáng sáng, anh em trong Đội từ đây ngược trở vào Hà Nội lấy tin tức rồi ra ngoài báo cáo. Năm 1951, cấp trên thông báo biệt động Hà Nội phải chuẩn bị cho ngày giải phóng Thủ đô và trở về nội thành hoạt động. Sau đó không lâu, Nguyễn Văn Thi mở quán cà phê Nhân tại số nhà 100 phố Cầu Gỗ để đón nhận tin tức từ các nơi. Với quán cà phê độc đáo và luôn đắt khách này, ông chủ quán được người ta gọi là “ông Nhân”.

Sau khi Hà Nội giải phóng, ông Tạ Đình Đề lần lượt được cử giữ các nhiệm vụ như Trưởng đoạn Đầu máy Hà Nội, Trưởng ban TDTT kiêm Giám đốc Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt (trực thuộc Tổng cục Đường sắt). Còn ông Thi vẫn bán cà phê. Cả hai ông có cùng niềm đam mê với bóng bàn và mong muốn góp sức phát triển môn thể thao này. Lúc đầu ông Thi tự mầy mò sản xuất vợt bóng bàn. Thế rồi “cái khó ló cái khôn” đầu năm 1959, ông Thi mua một tấm i-nốc về nhà hì hục đục khuôn để ép gai làm mặt vợt bằng cao su, mày mò ngót tháng trời làm ra một tấm ép đến hàng nghìn lỗ chân gai. Tuy nhiên khi ấy chưa có xí nghiệp nào có đủ điều kiện để thử nghiệm hiệu quả của mẫu này. Sau đó, ông Thi đem mẫu xuống nhà máy Cao su Sao vàng gặp ông Hoạt, nguyên là một vận động viên bóng bàn Hà Nội đồng thời là Giám đốc nhà máy chuyên làm lốp xe đạp để xin ý kiến. Ông Hoạt từng phải cầm chiếc vợt to tướng được ví như... cái quạt của Bà La Sát trong truyện Tây du ký. Nghe ông Thi nói vậy, ông Hoạt rất ủng hộ việc chế tạo cây vợt bóng bàn mới theo ý kiến ông Thi. Ông Hoạt nhiệt tình giúp đỡ và còn đề nghị ông Thi thu xếp về làm tổ trưởng tổ sản xuất vợt bóng bàn của nhà máy Cao su Sao vàng. Họ cùng nhau nghiên cứu và không lâu sau đó cho ra đời chiếc vợt bóng bàn mặt cao su đầu tiên của Việt Nam mang mã số 001, chân gai nhỏ như kiểu vợt Becna Dunlop của Pháp. Mặt cao su đã vậy, cốt gỗ được sự chi viện từ Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống; ông Bảo là Phó giám đốc nhà máy cũng tận tình giúp đỡ. Hồi đó, lối đánh “gò công” đang phổ biến và loại vợt này rất phù hợp với lối đánh ấy, bởi lớp giữa là gỗ gạo, gỗ sung còn loại gỗ làm phần cốt của hai bên là gỗ trám trắng và trám đỏ. Ông Thi rất khéo tay. Ông thường xuyên nhận sửa vợt miễn phí cho những người hâm mộ, từ cắt gọt cốt cho đến thay, dán mặt mousse... ngay tại ngôi nhà ở phố Cầu Gỗ.

Thế là từ năm 1962, ông Tạ Đình Đề là Trưởng ban TDTT của ngành Đường sắt, tới chơi và đề nghị ông Nguyễn Văn Thi về làm nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất mặt vợt mút Việt Nam. Một ý tưởng mới mẻ! Thế là họ thành lập tổ nghiên cứu mặt vợt bóng bàn tại phố Quán Sứ (Hà Nội). Công việc rất vất vả, nguyên vật liệu vừa hiếm vừa đắt, song được sự quan tâm của cấp trên, từ Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn tới Trưởng ban TDTT Tạ Đình Đề, mùa hè năm 1963 cây vợt mút Việt Nam đầu tiên có màu xanh - đỏ đã ra đời. Cây vợt Việt Nam đã nhanh chóng được sự đón nhận của nhiều người hâm mộ môn bóng bàn tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc. Ít người biết rằng sau một thương thảo ở cấp quốc gia, lô hàng đầu tiên của Việt Nam xuất sang Liên Xô đã đổi được 10 đầu máy hơi nước về ga Hà Nội, thành quả quá đỗi tuyệt vời! Cũng từ đó, vợt mút “made in Việt Nam” xuất khẩu đều đặn qua Liên Xô, cứ 10 chiếc vợt sẽ thu về 240.000đ. Bên Liên Xô, chiếc vợt này rất được hâm mộ, còn tại Việt Nam, đa số các vận động viên bóng bàn của chúng ta đều ưa dùng để tập luyện và thi đấu...".

Câu chuyện về mối quan hệ giữa ông Đề và ông Thi (vì quán cà phê của ông Thi gọi là Nhân nên cũng có người gọi ông là Nhân) trong việc sản xuất “vợt mút made in Việt Nam” ở thời khởi thủy cũng đã được nhiều tờ báo đề cập. Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7 năm 1994, có đăng bài của nhà văn Chu Lai về câu chuyện([3]) giữa nhà văn và ông Tạ Đình Đề gặp ông Nhân ở Hà Nội: "Đang đi, chợt có tiếng gọi bên kia đường. Đó là một người đàn ông cao tuổi, ảo phông trắng, soóc trắng, kính râm, tay cầm cây vợt cầu lông, dáng bộ nhanh nhẹn rất tay chơi. Ai thế? Tôi hỏi.

- Ông Nhân - Ông trả lời - Cà phê Nhân nổi tiếng Hà Thành đó, ông có nghe không?

Vâng, quả nghe. Nghe cảch gọi thấy hai cụ có vẻ bịn rịn với nhau lắm!

- Tri kỷ đấy. Tri kỷ trong chiến tranh, tri kỷ trong hòa bình, trong hoạn nạn và tri kỷ đến tận giờ. Hồi đánh Phảp, ông ấy mở quản cà phê tại Vân Đình. Từ ông tướng đến người lính đều ghé quán cả. Sau về Hà Nội cũng bán cà phê vừa lấy tin cho ta.

Nhìn theo cải dáng đi bộ thoăn thoắt của ông Nhân ngập trong dòng người, tôi hỏi:

- Có vẻ nhà thể thao hơn là ông chủ cà phê nổi tiếng?

- Thì đúng. Ông ấy chính là tảc giả đầu tiên của cây vợt bóng bàn Việt Nam và cũng là một trong những người đầu tiên cùng vào nhà mảy làm với tôi. Tôi vào tù, ông ấy cũng xin nghỉ. Ra tù, ông ấy bảo có vốn thì hùn vào, hai thằng lại sản xuất vợt bóng bàn. Không vốn, cứ đến chơi, nối lại tình cũ nghĩa xưa mình còn đang suy nghĩ”.

Như Tạ Đình Đề đã nói, ông không phải là nhà kinh tế và cũng không được học về quản lý kinh tế một cách có hệ thống. Xuất phát điểm đầu tiên là sự trăn trở trước đời sống của người thợ nghèo khổ. Đất nước hòa bình rồi mà cuộc sống người thợ vẫn phải chạy ăn từng bữa. Thậm chí nhiều gia đình người thợ của ông bị đói, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc... Ông suy nghĩ, tìm cách tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất để tăng năng suất lao động, như vậy mới có điều kiện nâng cao đời sống công nhân. Từ đó, đời sống của công nhân trong Xưởng ngày càng được nâng cao. Trong thời gian này, mỗi khi gặp bạn bè, đồng nghiệp, ai cũng hỏi thăm và chúc mừng, coi Xưởng dụng cụ là điểm sáng trong sản xuất của ngành Đường sắt Việt Nam.

Trong câu chuyện ông Đề kể về những đổi mới phương pháp quản lý sản xuất, ông thường nhắc tới vị Đại tá Quách Hải Lượng, người đồng đội trong kháng chiến, sau này ông luôn theo sát hỗ trợ ông Đề trong quản lý kinh tế. Để hiểu thêm vấn đề này, tôi tìm đến nhà Đại tá Quách Hải Lượng để tìm hiểu thêm. Hôm đến nhà, trời rất rét kèm mưa phùn. Vừa đến cửa, đứa cháu ông chạy ra cho biết, hôm nay ông cháu bị cảm. Tôi nói với cháu, chú muốn đến hỏi chuyện về ông Đề nhưng ông mệt thì hôm khác nhé. Cho chú gủi lời thăm ông. Tôi dắt xe đạp quay về. Vừa đi một đoạn, đứa cháu gọi to: Chú oi. Ông cháu dậy rồi. Tôi mừng quá dắt xe quay lại.

Tôi vào nhà Đại tá Lượng cũng ở khu tập thể Đường sắt. Theo tay ông chỉ, tôi ngồi đối diện với Đại tá Lượng. Tôi nhìn ông hỏi:

- Em tự giới thiệu là người quen thân với ông Đề và được ông ấy giới thiệu nên đến thăm nhưng ông lại bị mệt. Hôm nay trời rét quá. Thế ông đã thuốc thang gì chưa?…

Tôi chưa nói hết câu thì ông gật đầu:

- Rét quá, hơi cảm lạnh. Uồng thuốc cảm rồi. Tưởng chuyện gì chứ chuyện ông Đề thì sẵn sàng…

Tôi thấy nét mặt Đại tá Lượng tỉnh táo, vui hẳn lên. Tôi tự tin nhìn ông:

- Nghe ông Đề kể về quá trình hoạt động kinh tế và có nhắc đến Đại tá, người luôn bên cạnh ông Đề trong quá trình đổi mới sản xuất kinh doanh. Vậy xin Đại tá cho biết những hoạt động cuả Xưởng dụng cụ do ông Đề chỉ huy được thực hiện như thế nào?

Đại tá Quách Hải Lượng nhìn ra cửa sổ xa xăm. Đoạn ông quay lại nhin tôi:

- Tôi và anh Đề cũng là đồng đội năm xưa trong kháng chiến. Hòa bình lập lại, tôi là người may mắn được thương xuyên bên cạnh anh Đề trong quá trình chỉ huy sản xuất. Cho nên tôi hiểu rất rõ, anh Đề được giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Thể dục thể thao của ngành Đường sắt và phụ trách Xưởng dụng cụ. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ cả nước đang trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngành Đường sắt phải nhập một số máy hơi nước và linh kiện thuộc hệ thống chuyển động của toa xe lửa. Anh Đề đã cùng tập thể chỉ huy đơn vị của mình sản xuất ra các gioăng cao su, các bát đệm cao su cung cấp cho xe lửa. Tuy là sản phẩm nội hóa từ cao su tái sinh nhưng đã đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và các sản phẩm đều được sử dụng có hiệu quả thực tế, đem lại hiệu ích cho ngành Đường sắt. Một ngành mà anh Đề rất yêu quý và đồng cam, cộng khổ với anh em công nhân để thúc đẩy sản xuất phát triển. Với tinh thần, trách nhiệm và đầu óc thực tế, thông thoáng lại sớm nhận thức được phần nào về kinh tế thị trường, anh Đề đã chỉ đạo Xưởng dụng cụ làm ăn theo mô hình mới. Xưởng dụng cụ đã sản xuất ra vợt bóng bàn nổi tiếng một thời. Sản phẩm vợt bóng bàn được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Để tiếp tục mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng, ngoài các sản phẩm trên anh Đề đã chỉ đạo sản xuất các nhãn chai rượu... Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, Xưởng dụng cụ phải tự tìm kiếm nguyên vật liệu, máy móc. Làm được công việc này, nhờ tình yêu và sự quan tâm đến người thợ, với ý chí quyết tâm cao, dám nghĩ, dám làm của người chỉ huy đến tập thể anh chị em công nhân. Hoạt động của anh Đề và anh em công nhân tại Xưởng dụng cụ đã đóng góp lớn cho ngành Đường sắt. Anh Đề đã được lãnh đạo Tổng cục, anh em công nhân, bạn bè, đồng nghiệp rất yêu mến, tôn trọng và cảm phục. Anh là một cán bộ tình báo, nhưng đến lúc làm kinh tế cũng nổi đình đám. Nhiều người lúc đó coi đây là một đột phá về đổi mới quản lý trong công nghiệp, kiểu như khoán trong nông nghiệp của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Cho nên, khi ông bị vướng vào vòng lao lý (bị quy kết có hành vi chiếm đoạt tài sản Nhà nước) thì mọi người thật ngỡ ngàng về một con người có tinh thần trách nhiệm, nhiệt huyết cống hiến và đức hy sinh của ông đối với tập thể Xưởng dụng cụ.

Những ý kiến của Đại tá Quách Hải Lượng càng minh chứng tinh thần trách nhiệm và tình thương yêu công nhân của ông Đề thật đảng cảm phục. Nghe Đại tá Quách Hải Lượng kể, tôi coi đây là nhân chứng quan trọng về tinh thần trách nhiệm và năng lực tư duy đổi mới trong sản của của ông Đề…

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu: Trên trái đất này, đầu tiên làm gì có đường, do con người đi nhiều mới thành đường. Ai nói câu, đại ý như thế nhỉ? Hình như là văn hào Lỗ Tấn. Đúng vậy, đường là do con người đi lâu mà thành. Nhưng công lao đầu tiên phải thuộc về những con người khai phá, mở lối ban đầu. Nếu như ông Kim Ngọc là người mở đường về khoán sản phẩm trong nông nghiệp thì phải chăng ông Tạ Đình Đề là người đầu tiên thực hiện việc khoán sản phẩm trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp? Cả ông Kim Ngọc và ông Tạ Đình Đề đều xứng đáng là những người dũng cảm, sáng tạo của đêm trước đổi mới, xứng đáng là vì sao của Đất nước có nghìn năm văn hiến này.

  1. () Văn bản số 320/G6-TL ngày 05-10-1954 do Thiếu tướng Trần Sâm, Cục trưởng Cục Quân lực ký.

  2. () Bản án sơ thẩm số 56-HS2/ST ngày 12-6-1976, trang 17.

  3. () Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7 năm 1994.

Từ khóa
#Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế
Dương Thanh Biểu

Dương Thanh Biểu

Tác giả
• CÙNG CHUYÊN ĐỀ

Tác Phẩm & Bài Viết Liên Quan

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng Tiểu thuyết
17.09.2026 • 8 lượt xem

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng

NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI... (Ấn tượng đọc “Hoa dành ngày gặp mặt”, tiểu thuyết của nhà văn Dương Thanh...

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Truyện ký
17.09.2026 • 10 lượt xem

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH

MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức...

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời Truyện ký
17.09.2026 • 8 lượt xem

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời

Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm...

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước Văn xuôi
17.09.2026 • 10 lượt xem

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước

CUỘC GẶP KHÔNG HẸN TRƯỚCHà Nội những ngày đầu đông luôn mang một vẻ đẹp cổ kính và kiêu hãnh đến...