Truyện ký
Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế
Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm...
Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm con, cháu và bạn bè. Một hôm, ông cùng người bạn già, cũng là chiến sĩ biệt động thành Hà Nội năm xưa, thuê một chiếc xích lô, dạo chơi ven bờ s…

Mở đầu
Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm con, cháu và bạn bè. Một hôm, ông cùng người bạn già, cũng là chiến sĩ biệt động thành Hà Nội năm xưa, thuê một chiếc xích lô, dạo chơi ven bờ sông Sài Gòn. Lâu ngày gặp nhau, họ hàn huyên, nhắc lại những câu chuyện chiến đấu, hy sinh nhưng rất đỗi hào hùng thời chống Pháp. Hai người đang cái nhịp hàn huyên, sôi nổi theo kiểu nhà binh, ôn cũ nhớ xưa, bỗng người đạp xích lô, dừng lại, nhảy xuống đất. Anh ta chạy lên phía trước, hai tay chắp trước ngực, cúi vái ba cái. Hai ông thấy vậy chưa hiểu ra sao thì anh ta nhìn hai vị khách với vẻ mặt vui, trân trọng:
- Thưa hai chú. Có phải một trong hai chú đây là Tạ Đình Đề không ạ?
Cả hai vị khách rất ngạc nhiên vì họ chỉ gọi nhau bằng bí danh mà sao anh này lại biết ông Đề nhỉ? Ông Đề mỉm cười, hỏi lại:
- Tại sao anh ở Sài Gòn mà lại biết ông Đề?
- Dạ thưa hai chú. Cháu vừa đạp xích lô vừa nghe hai chú trò chuyện. Nghe chuyện hai chú kể, linh cảm cháu nhận ra một trong hai chú rất giống hình ảnh ông Đề thời Hà Nội bị Pháp tạm chiếm. Thời kỳ năm l947- 1949, cháu đang là học sinh ở Hà Nội. Tụi cháu lúc đó ai cũng thích nghe chuyện về Đội biệt động thành Hà Nội do Tạ Đình Đề chỉ huy. Bà con Hà Nội thời đó ai cũng ca ngợi những chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt của Tạ Đình Đề và các chiến sĩ Đội biệt động thành Hà Nội. Có người kể rằng, hồi đó, bọn lính Pháp và bọn Việt gian bán nước ở Hà Nội vô cùng lo sợ Tạ Đình Đề và các chiến sĩ của ông. Họ có biệt tài xuất quỷ nhập thần, không có sức mạnh nào ngăn nổi - Nói đến đây, anh ta lấy chai nước nhấp ngụm rồi nhìn hai vị khách, tiếp - Năm 1953, cháu chưa đến tuổi trưởng thành nhưng vẫn bị bắt đi lính Bảo chính Đoàn cho Pháp. Lúc đó thằng lính nào như bọn cháu cũng thích kể cho nhau nghe về chuyện ông Đề. Chuyện rằng, ông ấy có tài xuất quỷ nhập thần, hai tay cầm hai khẩu súng Van-te lăm lăm, bắn đâu trúng đấy. Vậy mà có hôm, thằng lính đi bảo vệ tên quan hai người Pháp, trong chớp mắt, bị ông Đề, như trên trời nhảy xuống, bấm huyệt làm nó không nói được. Ông ấy bảo: “Cho Tạ Đình Đề "mượn" chiếc áo và súng đi nhé”. Thằng lính bảo vệ như bị thôi miên, mất hết hồn vía, ngoan ngoãn cởi áo và súng đưa cho Tạ Đình Đề. Vừa nói, ông Đề vừa khoác trang phục lính ngụy, rảo bước đến gần tên quan hai, ghé tai, nói bằng tiếng Pháp, ra lệnh cho hắn chỉ huy toán lính đi thẳng. Còn tên quan hai người Pháp cùng ông Đề rẽ ngoặt vào một ngõ nhỏ rồi biến mất tăm... Bọn lính chúng cháu và có cả bọn lính Tây nữa, nghe vậy vừa thán phục ông Đề vừa toát lên sự sợ hãi, khiếp vía ông ấy. Nhưng thật lạ, khi nghe kể chuyện ông Đề và Đội biệt động thành Hà Nội thì thằng lính nào cũng chúm đầu nghe. Nhiều tên yếu bóng vía lúc nào cũng tưởng như ông Đề đang có mặt đâu đó. Có những tên lính vì lo sợ mà suy sụp tinh thần, ý chí, không giám thực thi nhiệm vụ. Lúc đó, bọn chỉ huy người Pháp phát hiện tình trạng trong các doanh trại, bọn lính hay kể chuyện về ông Đề và Đội biệt động thành Hà Nội, khiến họ rất lo lắng về tinh thần, ý chí quân lính của mình trước những câu chuyện về ông Đề. Bọn chỉ huy đã ra mật lệnh: “Từ nay, cấm tiệt việc bàn tán về chuyện ông Đề”. Nhưng chuyện về ông Đề cứ râm ran trong các trại lính...
Người đạp xích lô kể đến đây, rút trong túi mảnh giấy đưa cho hai vị khách và nói: đây là địa chỉ và số điện thoại của cháu. Lúc nào hai bác cần đi đâu cứ gọi, cháu sẵn sàng phục vụ ngay.
Đầu những năm 50 của thế kỷ trước, Tạ Đình Đề hoạt động ở những vùng tiếp giáp giữa Khu III và Khu IV. Tại các quán nước hay nơi tụ tập đông người ở các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, đâu đâu bà con cũng kể chuyện về ông Đề. Chuyện rằng, ông Đề học trường Võ bị của Tưởng Giới Thạch, được chúng giao đi ám sát Cụ Hồ, nhưng rồi được Cụ cảm hóa và trở thành người cận vệ trung thành của Cụ. Có lần, ông Đề đã kịp thời phát hiện và tiêu diệt tên nữ quái là gián điệp của địch được giao nhiệm vụ ám sát Cụ Hồ. Rồi biết bao câu chuyện nữa: ông Đề tóm gọn tên trùm buôn lậu, có súng ở mạn Cầu Bố. Ông Đề thi bắn súng với sĩ quan Tàu, rồi chuyện ông Đề ngăn chặn những người cán bộ, lợi dụng chức quyền, lộng hành, ức hiếp nhân dân trong kháng chiến...
Chuyện về Tạ Đình Đề thời ấy được lan ra và truyền tụng trong dân gian, từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến vùng nông thôn. Cho đến hơn nửa thế kỷ sau, chuyện về ông Đề vẫn được nhắc đến trên công luận (báo Công an nhân dân Online ngày 23-02-2008, báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 17-12-2012...). Những câu chuyện về Tạ Đình Đề đã trở thành huyền thoại, được nhân dân truyền tụng, thêu dệt, thêm thắt, gửi vào đó khát vọng anh hùng, lòng yêu nước, thương dân, ý chí quật cường của người dân đất Việt. Những câu chuyện ấy đan xen nhau giữa thực và ảo, bình thường và phi thường, cần mẫn và thông minh, thật thà và dũng cảm, nhiệt huyết và tốt bụng. Điều đáng chú ý, những câu chuyện về ông Đề, khi nghe đến đoạn cuối, bao giờ cũng xuất hiện tình tiết bất ngờ, khiến người nghe phá lên cười sảng khoái, tự hào...
Tạ Đình Đề, dưới con mắt của nhân dân Việt Nam được truyền tụng cho nhau nghe là thế đấy. Nhưng cũng con người ấy, vào thời kỳ Đất nước gặp phải khó khăn (cuối những năm 70 và những năm 80 của thế kỷ trước), cả nước lại rộ lên cái tên Tạ Đình Đề. Cái tên đó, lúc này không phải là huyền thoại anh hùng năm xưa nữa mà là những câu chuyện đầy bi thương của một người phạm tội Tạ Đình Đề, bị khởi tố, bắt giam, truy tố và xét xử, đúng lúc đất nước ta bước vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt của “đêm trước đổi mới”!
Lần thứ nhất, Tạ Đình Đề bị bắt giam gần hai năm. Sau đó bị truy tố ra Tòa với ba trọng tội: Tham ô tài sản XHCN, Cố ý làm trái và Hối lộ. Vào thời điểm ấy, người nào bị truy tố, xét xử về những trọng tội trên đây thường bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nhưng khi nghe tin Tạ Đình Đề bị truy tố, xét xử về các tội trên đây thì nhiều người dân tỏ ra rất băn khoăn, không tin đó là sự thật. Đặc biệt, tại phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề, hàng ngàn người từ các địa phương, từ các cung đoạn đường sắt kéo nhau về Hà Nội để nghe xét xử vụ án. Mặc cho thời tiết mùa hè Hà Nội lúc này nóng bức nhưng hàng ngàn người, cơm đùm, cơm nắm, suốt sáu ngày liền, họ chen nhau đứng dưới loa phóng thanh, quanh khu vực Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với thái độ bình tĩnh, trật tự để lắng nghe, theo dõi diễn biến phiên tòa xét xử vụ án Tạ Đình Đề.
Một điều kỳ lạ nữa là, khi Tạ Đình Đề phát biểu trước Tòa hoặc Luật sư bào chữa cho ông Đề cũng như đại diện cơ quan chủ quản của ông Đề phát biểu, tiếng vỗ tay vang lên không ngớt. Khi nghe bà Phùng Lê Trân, Chủ tọa Hội đồng xét xử tuyên bố tha bổng ông Đề thì hàng ngàn người ồ lên vui sướng, reo hò, hô vang: Tạ Đình Đề, Tạ Đình Đề! Quả là sự kiện chưa từng có trong tiến trình lịch sử tư pháp nước nhà.
Vẫn chưa hết, sau sự kiện làm chấn động dư luận nói trên độ hơn chục ngày, Bản án tuyên bố ông Đề vô tội đã bị cơ quan công tố kháng nghị, yêu cầu xét xử phúc thẩm toàn bộ vụ án sơ thẩm. Theo quy định của pháp luật, sau khi Bản án sơ thẩm bị kháng nghị, chậm nhất là 3 tháng, vụ án trên phải được xét xử phúc thẩm. Nhưng thật kỳ lạ, hơn 16 năm sau kể từ ngày kháng nghị, Bản án sơ thẩm trên đây vẫn không được xét xử phúc thẩm. Đây là “sự kiện” tư pháp đặc biệt mà từ trước đến nay chưa bao giờ xảy ra như vậy. Hậu quả tai hại dẫn đến Tạ Đình Đề và những người khác, hơn 10 năm sau, kể từ ngày được Tòa án tuyên vô tội, vẫn mang trên mình một cái tên mà cả xã hội đều “cảnh giác”. Đó là bị cáo của vụ án. Bởi vậy, ông Tạ Đình Đề và các bị cáo khác, mất việc làm, mất hết chế độ, mỏi mòn chờ Bản án phúc thẩm mà vẫn không được xét xử.
Trong lúc đang chờ phiên tòa phúc thẩm, Tạ Đình Đề lại bị bắt giam hơn 2 năm về tội an ninh quốc gia. Nhiều người tự hỏi, một lão thành cách mạng, một người có những việc làm anh hùng như ông Đề sao lại phạm tội tày đình như vậy? Cũng thật may, tuy ông Đề bị đề nghị truy tố về tội tuyên truyền phản cách mạng nhưng lần này, Viện kiểm sát nhân dân tôi cao đã quyết định đình chỉ điều tra, trả tự do, giải oan cho ông.
Đến nay Tạ Đình Đề “đã đi theo Bác Hồ”. Mặc dù đã bị “vào tù, ra tội” đến mấy lần nhưng ông Đề đã được Đảng và Nhà nước xác định là người có công lớn với đất nước, với nhân dân và đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng III. Trong tâm khảm người dân đất Việt, ông Đề là người anh hùng có công với dân, với nước, đã bị sa cơ, lỡ vận, vướng vào vòng công lý, oan trái đến tận cùng. Đối với tôi, hình ảnh người anh hùng ấy luôn là những kỷ niệm không thể phai mờ và vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Tuổi thơ của tôi được truyền năng lượng mới nhờ những câu chuyện huyền thoại của ông Đề do người lớn kể lại. Lớn lên, tấm gương anh hùng của ông Đề như một động lực, cỗ vũ, động viên, thôi thúc tôi xung phong lên đường ra tiền tuyến chiến đấu chống quân thù. Kết thúc đời quân ngũ, tôi chuyển ngành về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nguyện suốt đời là “người lính” cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm trong thời kỳ mới.
Trớ trêu thay, Tạ Đình Đề, người anh hùng trong trí tưởng tượng của tôi năm xưa, lúc này lại là bị can, bị cáo, đã hai lần sa vào vòng lao lý, gần bốn năm ngồi tù oan! Trong lần ông Đề bị bắt giam lần thứ hai, tôi có dịp được “trả nợ” cho ông phần nào. Nhưng những gì mà ông phải chịu đựng qua hai lần bị bắt giam oan thì quá lớn. Vì vậy, việc ông Đề bị bắt giam, truy tố oan ức cứ đeo bám tôi suốt mấy chục năm trời làm nghề Kiểm sát. Cho đến nay, khi đã về nghỉ theo chế độ, tôi vẫn không quên được hình ảnh ông Đề. Tôi đã lục tung cả “kho lưu trữ” đọc lại hồ sơ của hai vụ án mà ông Đề là bị can, bị cáo. Tôi đã cố gắng liên hệ, chấp nối, đi tìm gặp những người làm công việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án ông Đề; gặp gỡ những vị lão thành, những vị tướng lĩnh một thời đã sát cánh cùng ông, xông pha trận mạc, chiến đấu chống quân thù; tìm gặp, đối thoại, chuyện trò với những con người một thời đã cùng ông Đề, vượt qua biết bao gian khổ để xây dựng Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt (Xưởng dụng cụ); gặp những người con, cháu, họ hàng thân thích của ông ở quê; những người cầu thủ bóng đá của ông và có cả những người cùng cảnh lao tù với ông Đề nữa. Chưa hết, tôi còn tìm đọc những cuốn sách, bài báo từ trước đến nay đã viết vế ông Đế.
Đặc biệt, khi ông được Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định trả tự do, lúc nào có thời gian rỗi, tôi và ông Đề lại may mắn được ngồi bên nhau, lúc ở nhà ông, lúc ngoài quán nước. Đây là thời gian, hai chúng tôi chung điếu thuốc lào, chung chén trà Thái thơm lừng để trò chuyện, tâm tình...
Chúng tôi đã kể cho nhau nghe những chuyện về cuộc đời người lính đầy gian khổ hy sinh thời chống Pháp (của ông Đề) và thời gian chống Mỹ (của tôi). Chúng tôi ngồi ôn lại những năm tháng đầy khó khăn của thời kỳ bao cấp vào những năm của thập kỷ 70, 80, thế kỷ trước. Ông đã tâm sự rất thật với tôi về cuộc đời, những suy nghĩ và hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị ông trong thời kỳ bao cấp, thời kỳ đầu, mầy mò đổi mới. Ngày ấy, Nhà nước thực hiện cơ chế tập trung, bao cấp, ông đã vắt óc suy nghĩ, tìm cách cải tiến phương pháp quản lý như thế nào để đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất lao động. Ông đã lo công ăn, việc làm, bảo đảm đời sống cho anh em công nhân ra sao và bằng cách nào mà ông đã đưa sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và chất lượng đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tôi hỏi ông với tư cách là “người em” để hiểu rõ sự việc và tâm trạng của “ông anh” trong suốt gần 4 năm ngồi tù oan uổng.
Cuối cùng, với những cảm xúc và lòng quý trọng ông, với trách nhiệm nghề nghiệp và lương tâm của người trong cuộc, tôi như được thôi thúc, đi đến quyết định phải cầm bút viết tiếp câu chuyện về Tạ Đình Đề. Đã bao đêm không ngủ, tôi cứ suy nghĩ nên viết về ông như thế nào? Những chuyện như huyền thoại của ông đã trở thành các câu chuyện dân gian từ trước tới nay được người dân kể cho nhau nghe và đã có nhiều sách, báo đề cập. Cuối cùng tôi chọn viết về những góc khuất của ông nhưng cũng thẫm đẫm tính huyền thoại của cuộc đời ông. Qua câu chuyện này, tôi muốn gửi gắm một điều: Tạ Đình Đề là một anh hùng trong chiến tranh đã được nhân dân tôn lên thành huyền thoại. Người anh hùng ấy, khi chuyển sang trận tuyến sản xuất kinh doanh, ông cũng đã đi đầu trong công cuộc đổi mới về quản lý kinh tế công nghiệp, cùng thời với ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, tiến hành đổi mới trong quản lý kinh tế nông nghiệp. Đó là huyền thoại lần thứ hai của ông Đề mà ngày nay, tôi cũng như nhiều người, vẫn trân trọng và biết ơn ông.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cả những người đã gặp và chưa gặp cùng đồng hành với tôi trong quá trình phác thảo nên Chân dung một CON NGƯỜI viết hoa: Tạ Đình Đề!