VĂN THƠ

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước

CUỘC GẶP KHÔNG HẸN TRƯỚCHà Nội những ngày đầu đông luôn mang một vẻ đẹp cổ kính và kiêu hãnh đến nao lòng. Cái lạnh không ập đến bằng những đợt gió mùa buốt giá hay những cơn mưa phùn âm u, mà len lỏi nhẹ nhàng, luồn lách qua từng vạt áo. Cái rét …

Dương Thanh Biểu
Dương Thanh Biểu

Xuất bản: 17/09/2026

CUỘC GẶP KHÔNG HẸN TRƯỚC

Hà Nội những ngày đầu đông luôn mang một vẻ đẹp cổ kính và kiêu hãnh đến nao lòng. Cái lạnh không ập đến bằng những đợt gió mùa buốt giá hay những cơn mưa phùn âm u, mà len lỏi nhẹ nhàng, luồn lách qua từng vạt áo. Cái rét ngọt lịm, tê tái như một nốt trầm bất chợt rơi xuống bản tấu ca dai dẳng của chốn phồn hoa.

Nắng chiều vắt ngang những dãy phố cổ ngả màu, thả xuống không gian một sắc vàng hanh hao, mỏng tang như dải lụa đã đi qua bao mùa sương gió. Những chiếc lá xà cừ cuối cùng lìa cành từ độ cao chót vót, chao nghiêng giữa không trung, xám bạc rồi khẽ khàng chạm xuống mặt đường còn vương cát bụi. Chiếc lá xoay vần trong ngọn gió heo may, gợi nhắc niềm lưu luyến về một thời hoa lửa, về những năm tháng gian lao mà anh dũng đã khắc sâu vào tâm khảm đời người.

Buổi giao lưu nồng ấm của các cựu học sinh tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vừa khép lại khi ánh sáng mặt trời giữa ngày đã đứng bóng, nhạt nhòa trên mặt đất. Dắt chiếc xe máy ra khỏi cổng trường, tôi định bụng sẽ hướng thẳng về ngôi nhà ấm cúng của mình để tránh cái rét chiều đông. Nhưng rồi, chính trong cái tĩnh lặng đìu hiu của buổi trưa đầu đông ấy, một ý nghĩ bất chợt lóe lên như đốm lửa nhỏ sưởi ấm tâm lòng: "Nhà bác Thảo, bác Nguyệt ở ngay gần đây. Mấy hôm nay thay đổi thời tiết, trời trở rét, không hiểu sức khỏe của hai bác ra sao? Lâu không ghé thăm, lòng bỗng thấy nhớ. Mình phải tranh thủ tạt qua một chút mới được!"

Nỗi nhớ nôn nao quyện cùng nghĩa tình đồng đội sâu nặng đã thôi thúc, khiến tôi không thể chối từ. Quay đầu xe, tôi rẽ vào một góc chợ nhỏ ven đường. Nhìn những trái cam sành vỏ rỗ, mọng nước, tỏa ra thứ hương thơm nồng đượm, tôi cẩn thận chọn lấy vài cân tươi ngon nhất. Bọc quà tuy đơn sơ nhưng gói trọn tấm lòng tri ân kính cẩn dành cho vị Thủ trưởng mà một người lính như tôi cùng bao đồng đội luôn hết mực ngưỡng mộ.

Cánh cổng sắt nhuốm màu thời gian của nhà Thủ trưởng Thảo hé mở, không khóa, tựa như sự cởi mở luôn sẵn sàng đón bước chân quen thuộc của bạn bè, đồng chí, đồng đội. Giữa khoảng sân nhỏ ngập tràn ánh nắng mỏng tang, bác Nguyệt - phu nhân Thủ trưởng - đang tỉ mẩn tưới từng chậu cây cảnh. Dáng hình bác nhỏ nhắn, toát lên nét đài các, thanh lịch bẩm sinh của người con gái Hà Thành xưa, dẫu thời gian đã điểm sương trên mái tóc. Thấy tôi, đôi mắt hiền từ của bác ánh lên niềm vui sướng bất ngờ.

- Em chào bác Nguyệt! Nhìn bác dạo này da dẻ hồng hào, thần thái tinh anh thật là quý hóa. Em kính chúc hai bác luôn mạnh khỏe, bình an! Bác trai có nhà không bác?

Bác Nguyệt ngừng tay, dùng chiếc khăn bông quàng cổ lau vội vệt nước. Bác nhìn tôi, nụ cười đôn hậu bừng nở trên khuôn mặt in hằn nếp thời gian:

- Xin chào chú Biểu! Quý hóa quá, ngọn gió đầu đông nào lại đưa "quan kiểm sát" đến thăm nhà thế này? Nhà tôi đang cùng khách quý ra thăm cây ngoài vườn. Chú vào nhà chơi để tôi ra gọi các ông vào nhé.

Tôi bước vào phòng khách. Căn phòng giản dị nhưng toát lên vẻ trang nghiêm, đầm ấm vốn có của một gia đình tướng lĩnh giàu truyền thống. Những bức ảnh đồng đội ngả vàng, những tấm huân, huy chương nằm im lìm trong tủ kính như những chứng nhân thầm lặng cho một thời hoa lửa, oanh liệt.

Tôi đứng lặng ngắm chân dung Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trong bộ quân phục, ánh mắt tinh anh và nụ cười hiền từ. Qua bức ảnh, tôi thấy ông không chỉ là một vị tướng cấp cao mà còn là bậc thầy mang tư duy chiến lược vào từng trận đánh. Ông từng khiến kẻ thù khiếp đảm ở chiến trường Tây Nguyên năm xưa bằng nghệ thuật nghi binh tuyệt vời. Ở ông, luôn ngời sáng tình thương yêu nồng ấm dành cho đồng đội. Bởi vậy, sự kính trọng mà tôi dành cho ông chưa bao giờ vơi cạn, mà sẽ luôn theo tôi đi suốt cuộc đời.

Chợt tiếng bước chân sột soạt ngoài sân cắt ngang dòng suy tưởng. Cánh cửa mở ra, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo bước vào với tác phong nhanh nhẹn, tráng kiện. Ngay sau lưng ông là một người đàn ông dáng cao gầy, mái tóc bạc trắng như mây, nhưng đôi mắt ẩn dưới hàng chân mày rậm vẫn quắc thước và tinh anh, sắc sảo lạ kỳ.

Tôi sững người mất vài giây. Đó là bác Tạ Đình Đề! Người mà nhân dân ta nhiều nơi đã thêu dệt lên huyền thoại của ngành tình báo, con người mà tên tuổi đã hóa thành giai thoại từ thời tiền khởi nghĩa. Ông cũng là nhân vật mang số phận bi kịch, người đã tiêu tốn không biết bao thời gian, tâm huyết và cả những đêm trắng trăn trở của tôi thời gian qua. Đó là những cuộc họp kéo dài, những cuộc tranh luận nảy lửa xung quanh việc ông vướng vào vòng lao lý...Tôi vội vã đứng dậy:

- Em xin kính chào hai bác. Kính chúc hai bác luôn dồi dào sức khỏe và hạnh phúc à!

Nghe tiếng tôi, bác Thảo gật đầu, bước tới bắt tay xởi lởi, nụ cười rạng rỡ tỏa sáng trên khuôn mặt chữ điền nhân hậu. Ông nháy mắt nhìn tôi, rồi quay sang bác Đề cất giọng hài hước:

- Chú Biểu thử xem có nhận ra “ông cụ” này là ai không nào?

Đã quá quen thuộc với gương mặt bác Đề qua hàng chồng hồ sơ vụ án phức tạp và những buổi đàm đạo gần đây, nhưng thấy bác Thảo trêu đùa, tôi cũng hùa theo để xua đi sự cứng nhắc thường nhật của một cán bộ pháp lý. Tôi lắc đầu tếu táo:

- Dạ. Thưa Thủ trưởng. Em nhìn “ông cụ” này lạ quá! Nhưng ngắm kỹ thì thấy "ông cụ" này trông quen quen mà hình như... em chưa gặp bao giờ thì phải!

Câu nói đùa khiến cả phòng khựng lại một tích tắc, rồi bác Đề tiến lên, vỗ một tiếng "đét" giòn tan vào vai tôi, cười sảng khoái:

- Báo cáo ông anh! Lạ thế nào được mà lạ. Trên cả mức thân thiết đấy anh Thảo ạ!

Cái vỗ vai của người từng nếm trải bao dâu bể, từng nhiều lần đi trên lằn ranh sinh tử của nghiệp tình báo, từng hai bận bước qua cửa ngục và một lần đứng trước vành móng ngựa... sao mà ấm áp và bao dung đến lạ kỳ. Giữa cái rét bủa giăng ngoài khung cửa, trái tim tôi như được sưởi ấm bởi ngọn lửa rực rỡ của tình đồng chí, đồng đội thân thương...

Trong lúc đó, bác Nguyệt chu đáo rót những chén trà xanh bốc khói nghi ngút, tỏa hương thơm thanh khiết khắp gian phòng. Xong xuôi, bác khéo léo lánh ra sau nhà tưới hoa để nhường không gian cho ba người đàn ông hàn huyên. Hôm nay, bác Thảo diện bộ quân phục mùa đông phẳng phiu, vô cùng oai vệ. Ông nhấp một ngụm trà đậm, nheo đôi mắt cười hóm hỉnh:

- Các chú xơi nước đi. Sáng nay vừa tiếp mấy đồng đội cũ nên tôi phải mặc trang phục chính quy thế này. Không ngờ cơn gió đầu đông lại khéo chiều lòng, đưa ba anh em mình hội ngộ. Thật quý hóa cho một cuộc gặp không hẹn trước mà ấm áp lạ thường.

Tôi gật đầu ngắm bộ quân phục của bác Thảo, rồi quay sang bác Đề:

- Gió mùa Đông Bắc về, bác Thảo mặc trang phục mùa đông này vừa đẹp lại vừa ấm áp. Đúng không bác Đề?

Bác Đề từ nãy giờ vẫn đăm đắm nhìn ra cửa sổ, nơi vạt nắng đang nhạt dần trên vòm cây cổ thụ. Ông quay lại, gật gù đáp bằng chất giọng trầm khàn đặc trưng:

- Em thấy bộ quân phục mùa đông này rất hợp với bác Thảo - Ông nhấp ngụm nước rồi trầm ngâm - Em với bác Thảo mang tiếng ở gần nhau nhưng hiếm khi có dịp ngồi tự tại thế này. Chứ còn với chú Biểu đây thì... từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trút bỏ được gánh nặng ngàn cân, sáng Chủ nhật nào anh em tôi cũng quây quần bên ấm chè và điếu thuốc lào rôm rả! Tuần nào không gặp là thấy nhớ…

Nói đoạn, với đôi bàn tay gầy guộc nhưng khéo léo, bác Đề tỉ mẩn vê một viên thuốc lào tròn xoe. Ông thong thả tra thuốc vào nỏ chiếc điếu cày, bật lửa rồi nhấp môi ba lần “choác, choác, choác”. Tiếp đó ông lấy hơi, hai hàng mi nhíu lại, rồi kéo một hơi thật dài và dứt khoát. Cổ ông nổi đầy những đường gân guốc. Tiếng điếu cày vang lên giòn giã như tràng pháo hoa:

Xoành xoạch... sòng sọc...

Ông ngửa cổ, đôi mắt nhắm hờ, chậm rãi nhả ra làn khói trắng đục cuồn cuộn bay lên trần nhà. Nét mặt ông toát lên sự khoan khoái, nhẹ nhõm đến lạ kỳ. Căn phòng bỗng chốc ngan ngát mùi khói mộc mạc của chốn hương đồng gió nội. Thỏa mãn xong "khoái thú", bác Đề đưa chiếc điếu cày về phía tôi, hất hàm động viên:

- Nào, bắn một điếu cho ấm người đi chú Biểu!

Tôi không ngần ngại đón lấy khẩu "súng lục" bằng trúc ấy, vê một điếu nhỏ rồi châm lửa. Nhưng thú thực, hơi tôi kém nên điếu chỉ kêu "ọc ọc" lí nhí, chẳng thể nào giòn giã được như bác Đề. Nhả làn khói mỏng, tôi nhìn chiếc điếu cày quen thuộc, tò mò hỏi:

- Bác mang cả điếu cày từ nhà sang tận đây cơ à?

Bác Đề cười khà khà, đôi mắt nheo lại:

- Sang nhà bác Thảo - vị tướng quân sự đỉnh cao - thì lấy đâu ra điếu cày mà xài! Bộ đội ta luôn nhắc nhau “Vũ khí bất ly thân” mà, phải mang theo để sẵn sàng “tác chiến” chứ chú Biểu!

Bác Thảo ngồi bên cạnh nhìn hai anh em đối đáp, bật cười sảng khoái:

- Chú Biểu dạo này cũng nhiễm món này rồi cơ đấy? Ngày trước tôi nhớ chú chỉ hút thuốc lá thôi mà?

Tôi gãi đầu phân trần:

- Báo cáo bác, từ ngày cùng dốc bầu tâm sự với bác Đề, bị bác ấy “đầu độc” nên em nghiện lúc nào chẳng hay. Giờ em bỏ hẳn thuốc lá, chuyển sang thuốc lào vừa đỡ tốn kém, lại đậm đà tình nghĩa bác ạ!

Tiếng cười vừa dứt, bầu không khí bỗng chùng xuống nhường chỗ cho khoảng lặng trầm tư. Ngoài trời, gió mùa đông bắc lại rít lên, làm những tán lá rung bần bật. Gương mặt Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đượm vẻ đăm chiêu. Ánh mắt từng kinh qua hàng trăm trận mạc nay hằn lên nỗi băn khoăn rất đời về người đồng chí, đồng đội. Ông nhíu mày nhìn tôi:

- Nhân đây anh hỏi chú Biểu chuyện này. Hôm rồi chú Đề cho tôi xem công văn của Tòa án nhân dân tối cao về việc không xét xử phúc thẩm vụ án trước đây, và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đình chỉ điều tra hành vi phạm tội lần hai đối với chú Đề. Anh em đồng đội cũ ai cũng rất mừng. Coi như vướng mắc pháp lý mười mấy năm trời của chú Đề đã được tháo gỡ. Thế nhưng, nhiều người vẫn lo lắng: Liệu với các văn bản này, chú Đề đã thực sự an toàn chưa? Bi kịch cũ có lặp lại nữa không?

Bác Đề nhíu chặt chân mày, lặng im chờ đợi. Khoảng lặng ấy chất chứa áp lực tâm lý khủng khiếp của một con người tuyệt đối trung thành với Đảng và Bác Hồ, nhưng lại chịu nỗi bị bắt giam oan, cay đắng. Thấu hiểu nỗi lòng của hai bậc tiền bối, tôi đan hai tay vào nhau, cất giọng rành rọt, quả quyết của một cán bộ thực thi pháp luật:

- Báo cáo hai bác! Em xin khẳng định chắc chắn rằng: Các văn bản trên hoàn toàn tuân thủ đúng pháp luật. Kể từ giây phút này, bác Đề là một công dân tự do hoàn toàn! Bác có thể kê cao gối ngủ thật ngon giấc, an hưởng tuổi già bên gia đình, con cháu và đồng đội.

Bác Thảo thở phào nhẹ nhõm, đưa bàn tay vỗ mạnh lên vai bác Đề nhưng mắt vẫn hướng về tôi:

- Nghe chú Biểu nói vậy, tôi mừng cho chú Đề một, mừng cho sự khách quan của công lý mười! Tôi vẫn nhớ như in phiên tòa xử ông Đề mấy năm trước đây. Khi bà Thẩm phán tuyên bố chú Đề vô tội, cả khán phòng vỡ òa. Ai cũng tưởng thế là xong. Nào ngờ sau đó lại có kháng nghị, rồi vụ án bị treo lửng lơ hơn một thập kỷ, đẩy chú Đề vào tai ương lần thứ hai. Gia đình làm sao mà không lo được!

Bác Đề ngẩng đầu, giọng run run xúc động:

- Bác Thảo nói trúng tim đen của tôi. Dù cầm văn bản đóng dấu đỏ chót của cơ quan Trung ương, mấy hôm nay vợ con tôi vẫn ăn không ngon, ngủ không yên. Cứ nhắm mắt lại giật mình sợ lịch sử lặp lại...

Nhìn nét mặt vẫn còn vương vấn âu lo của hai bác, tôi từ tốn phân tích thêm:

- Trong quá trình thụ lý hồ sơ, em đã tìm gặp các bậc lão thành cách mạng từng hoạt động cùng bác Đề thời kỳ tiền khởi nghĩa. Ai cũng khẳng định bác Đề là người kiên trung, suốt đời phấn đấu, hy sinh vì Tổ quốc, không mảy may tư lợi. Toàn bộ chứng cứ vụ án đã được thu thập đầy đủ, em đã báo cáo và nhận được sự nhất trí cao của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Những văn bản này được ban hành bởi các cơ quan tư pháp có thẩm quyền cao nhất và đã có hiệu lực pháp luật. Không một ai có thể lật ngược được sự thật này nữa. Bây giờ, bác Đề chỉ cần gửi quyết định này đến các cơ quan chức năng để đề nghị khôi phục mọi chế độ, chính sách.

Nút thắt trong lòng được cởi bỏ, đôi mắt bác Đề sáng bừng lên, ông liên tục gật đầu:

- Cảm ơn chú Biểu. Tôi đã làm theo hướng dẫn trước đây của chú và đã gửi đơn sang Tổng cục Đường sắt rồi. Họ hứa sẽ giải quyết chế độ cho tôi. Nhưng còn một chuyện... Tôi bị giam cầm oan uổng mấy năm trời, tổn thất về tinh thần và vật chất quá lớn. Bây giờ tôi muốn Nhà nước bồi thường thì thủ tục thế nào hả chú Biểu?

Tôi nhìn bác Đề gật đầu, trấn an:

- Việc yêu cầu bồi thường oan, sai là quyền lợi hợp pháp của bác. Nếu thấy cần thiết, bác cứ làm đơn gửi các cơ quan có thẩm quyền, chúng em sẽ luôn sát cánh hỗ trợ thủ tục!

Không khí phòng khách trở nên thư thái hơn hẳn. Bác Thảo đứng dậy, chậm rãi bước tới chiếc tủ gỗ gụ kê sát góc tường. Ông cẩn thận mở tủ, lấy ra một tấm ảnh đen trắng đã ngả màu ố vàng, viền sờn cũ theo năm tháng. Ông tiến lại, trân trọng trao tận tay bác Đề:

- Hôm qua, tôi vừa hội ngộ một người đồng đội cũ thời chống Pháp. Anh Kim Hùng đã trao tặng tôi bức ảnh của anh em mình ngày trước. Tôi thực sự vô cùng xúc động, bởi không ngờ anh ấy lại nâng niu, gìn giữ kỷ vật này cẩn thận suốt ngần ấy năm. Nay, tôi xin được gửi lại chú Đề giữ làm kỷ niệm.

Bác Đề cẩn trọng đón lấy bức ảnh bằng cả hai tay. Ngắm nhìn kỷ vật nhỏ bé, một nụ cười rạng rỡ chợt bừng sáng trên khuôn mặt khắc khổ đã hằn sâu bao vết chân chim:

- Ôi chao! Đây chính là bức ảnh chụp hồi chúng ta đang kề vai sát cánh tại chiến trường Liên khu 3 đây mà! Mấy chục năm đằng đẵng đi qua bao khói lửa đạn bom, tôi cứ ngỡ nó đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng. Nhìn anh em trong Ban Tình báo Liên khu ngày ấy ai nấy đều gầy gò, da xanh xao, đủ hiểu thời đó chúng ta đã trải qua những năm tháng gian khổ, ác liệt đến nhường nào. Thế nhưng, trong ánh mắt mỗi người vẫn ngời sáng một ý chí lạc quan, kiên cường.

Thấy tôi rướn người tò mò, bác Đề trìu mến đưa bức ảnh cho tôi xem. Ngắm nghía kỷ vật đã ố màu thời gian, tôi thầm nghĩ: Đây đều là những chàng trai tuổi đời còn rất trẻ, khoác trên mình bộ quân phục đơn sơ nhưng ánh mắt lại sục sôi bầu nhiệt huyết. Gương mặt họ tuy hao gầy nhưng vẫn toát lên sức vóc của tuổi thanh xuân phơi phới, rực sáng chất thép kiên trung của người lính cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Lòng dâng trào cảm xúc, tôi nhìn bác Thảo rồi hướng ánh mắt sang bác Đề, trầm trồ thốt lên:

- Thật tuyệt vời quá! Dấu vết thời gian đã làm bức ảnh phai mờ đi nhiều, em chỉ còn nhận rõ khuôn mặt của bác Thảo và bác Đề, những người khác thật khó để nhận diện.

Bác Đề chậm rãi lướt ngón tay, chỉ vào từng người trong ảnh:

- Đây là bức ảnh chụp Tư lệnh Hoàng Minh Thảo cùng anh em Ban Tình báo Liên khu. Bác Thảo đây, còn bên trái là tôi thì dễ nhận ra rồi. Người đứng bên phải bác Thảo là anh Kim Hùng, Trưởng ban. Những người còn lại đều là cán bộ, chiến sĩ cốt cán của Ban Tình báo Liên khu 3 ngày ấy.

Tôi chăm chú dõi theo từng cử chỉ của bác Đề. Khi bác vừa giới thiệu xong, tôi ngước nhìn bác Thảo với đôi chút băn khoăn:

- Trong bức ảnh này, em chỉ biết hai bác. Vậy những người còn lại hiện giờ ra sao rồi thưa bác?

Nghe tôi hỏi, ánh mắt bác Thảo bỗng chùng xuống. Bác nhìn xa xăm ra phía cửa sổ như đang lặng lẽ tìm về miền ký ức xa xưa, rồi chậm rãi quay lại nhìn tôi, cất giọng trầm buồn:

- Những người đồng đội trong bức ảnh này... đều đã anh dũng hy sinh cả rồi. Anh Kim Hùng cũng vừa mới qua đời. Nhớ thương anh em quá đỗi...

Thấy bác Thảo rưng rưng, tôi ngắm bức ảnh lần nữa, lòng dâng lên niềm xúc động sâu sắc:

- Tình đồng chí của các bác thực sự là một bản anh hùng ca sắt son. Xưa kia trên chiến trường vào sinh ra tử, nhường nhau từng củ sắn, bát rau rừng. Nay hòa bình, khi một người sa cơ lỡ bước, người kia vẫn bền bỉ một niềm tin, tìm mọi cách để che chở, cưu mang, bảo vệ.

Bác Đề khẽ gật đầu, hoài niệm:

- Năm 1941, giữa lúc phong trào cách mạng trong nước đang sục sôi, tôi và bác Thảo vô cùng vinh dự được cấp trên cử sang học tập tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).

Nói đến đây, như để khơi thông mạch ký ức, ông lại thoăn thoắt vê thuốc lào, rồi cho vào nỏ điếu. Ông châm lửa. Tiếng sòng sọc quen thuộc lại vang lên phá vỡ không gian tĩnh lặng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tiếp dòng hồi tưởng:

- Trường Quân sự Hoàng Phố thành lập năm 1924 tại Quảng Châu, là trung tâm đào tạo chính trị - quân sự thời bấy giờ, có chuyên gia hàng đầu của Liên Xô trực tiếp giảng dạy. Với tầm nhìn chiến lược, Đảng và Bác Hồ đã chọn những cán bộ ưu tú gửi gắm sang đây học tập. Nơi ấy chính là "cái nôi" rèn luyện nên nhiều vị cán bộ và tướng lĩnh cho cách mạng ta sau này.

Nghe bác Thảo nói xong, tôi à lên thán phục:

- Hai bác cùng học chung mái trường danh tiếng trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt thế này, hẳn phải có vô vàn kỷ niệm sâu sắc!

Bác Đề nhả làn khói mờ đục lên trần nhà, lắc đầu cười:

- Chúng tôi học chung trường nhưng chuyên ngành thì khác một trời một vực! Bác Thảo học về chiến lược, mưu lược chỉ huy các trận đánh lớn theo binh pháp Tôn Tử. Còn tôi, bản tính ưa xông xáo phong trần nên được phân vào ngành tình báo, học cách sử dụng vũ khí, kỹ thuật phát hiện và tiêu diệt gián điệp...

Nghe đến đây, tôi bật cười vang, làm không khí căn phòng rộn rã hẳn:

- Nhờ được trò truyện, giao lưu với gia đình hai bác, em phát hiện ra một bí mật cực kỳ thú vị! Hai bác đều là lính tráng xuất thân từ tỉnh lẻ, thế mà không biết áp dụng “mưu lược” gì mà tán đổ được hai tiểu thư khuê các, thanh lịch chính hiệu Hà Thành!

Câu đùa gãi đúng "chỗ ngứa" khiến hai bác ngớ người sau giây lát. Hai bác nhìn nhau rồi gật đầu, cùng phá lên cười sảng khoái. Chờ tiếng cười vơi đi, tôi tiếp lời với sự trân trọng:

- Em rất may mắn được tiếp xúc với hai bác gái nhiều lần. Hai bác gái không chỉ nổi tiếng sắc nước hương trời, điều đáng quý nhất là các bác ấy vô cùng tần tảo. Suốt những tháng năm các bác trai đi chiến dịch mịt mù khói lửa, các bác gái ở nhà đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ do cuộc xâm lược của thực dân gây nên, chèo chống xây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình, thầm lặng nuôi dạy con cái nên người. Theo em, đó là sự hy sinh thầm lặng nhưng rất lớn lao của các bác gái, sống trọn nghĩa vẹn tình với chồng con, làng xóm!

Tôi vừa dứt lời, từ ngoài hiên đã vang lên chất giọng thanh tao:

- Chú Biểu chỉ giỏi nịnh các ông anh và tâng bốc chị em chúng tôi hơi quá lời rồi đấy!

Bác Nguyệt vừa cười vừa bê vào một đĩa cam sành vàng ươm, tỏa hương thơm ngát, nhẹ nhàng đặt xuống bàn:

- Mời cả nhà xơi cam chú Biểu mang đến. Chú khéo chọn cam thế này, chắc vợ con ở nhà được nhờ lắm đây.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo nhìn vợ bằng ánh mắt ắp đầy yêu thương:

- Chú Biểu nói rất thật lòng đấy. Đời lính thời ấy, đi chiến dịch có khi hàng chục năm ròng rã không một dòng tin tức. Nếu không có hậu phương thầm lặng mà vĩ đại như các bà, làm sao chúng tôi yên tâm vững tay súng nơi tiền tuyến ác liệt được!

Bác Nguyệt khẽ ửng hồng đôi má, nguýt yêu chồng:

- Kìa ông! Hôm nay ông ăn nói sao mà văn hoa, triết lý thế. Đừng có nịnh đầm trước mặt anh em. Thôi, cả nhà ăn cam cho ngọt giọng đi nào!

Tiếng cười rộn rã lại vang lên, xua tan đi cái lạnh chiều đông về mỗi lúc một rét thêm, đang gõ nhịp ngoài hiên nhà.

Tạm biệt gia đình Thủ trưởng Thảo, tôi chào các bác, dắt xe ra về. Trời dẫu đã sẩm tối, nhưng hơi ấm từ cuộc hội ngộ nhân duyên ấy cứ vấn vương, sưởi ấm lòng tôi suốt chặng đường dài. Về đến nhà, tôi đem trọn vẹn câu chuyện cảm động ấy kể cho vợ con. Ai nấy đều lặng người vì khâm phục thứ tình cảm đồng chí, đồng đội cao đẹp và thiêng liêng.

Thế nhưng, đời người hữu hạn, quy luật sinh - lão - bệnh - tử chẳng trừ một ai. Cách đó không lâu, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo gọi điện cho tôi, giọng ông trùng xuống xót xa:

- Chú Biểu ơi... Chú Đề ốm nặng lắm, hiện đang cấp cứu ở Bệnh viện Hữu Nghị.

Tôi vội vã hẹn bác Thảo cùng vào thăm. Chiều đông hôm ấy, phòng bệnh tĩnh mịch đến nao lòng. Trên chiếc giường trắng toát, huyền thoại Tạ Đình Đề nằm im, thân hình gầy rộc. Làn da đồi mồi với những đường gân xanh xao đã bắt đầu lạnh giá. Nhưng kỳ lạ thay, đôi mắt ông vẫn ngời lên sự tinh anh - thứ ánh sáng của trí tuệ và bản lĩnh từng đi qua giông bão cuộc đời.

Chúng tôi bước tới bên giường. Mỗi người nắm lấy một bàn tay gầy guộc của bác. Cảm nhận hơi ấm đang dần trôi tuột đi, tim tôi nhói buốt, nước mắt chực trào. Tôi nhẹ nhàng xoa bóp đôi vai gầy cho ông. Bác Đề thều thào nhìn bác Thảo bằng từng nhịp thở đứt quãng:

- Tôi yếu lắm rồi anh Thảo ạ... Chắc chẳng còn được bao lâu nữa...

Sau một tràng ho khan húng hắng, ông chậm rãi quay sang tôi, dặn dò bằng lời rút ruột gan:

- Trước đây tôi có làm đơn đề nghị hai việc. Việc thứ nhất là yêu cầu Nhà nước bồi thường những năm tháng bị giam cầm oan sai. Nhưng nằm trên giường bệnh suy ngẫm, tôi nhận ra đó cũng chỉ là giới hạn do nhận thức và cơ chế mà thôi. Chẳng có ai cố ý hãm hại mình làm gì... – Nói đến đây, ông lại tiếp tục ho. Dứt cơn ho, ông tiếp tục - Nay pháp luật đã minh oan, Đảng và Nhà nước đã trả lại danh dự và phục hồi các quyền lợi cho tôi. Cổ nhân có câu “chín bỏ làm mười”. Vì thế... tôi quyết định gác lại chuyện bồi thường, không đòi hỏi gì thêm nữa!

Nghe những lời trăng trối của bác Đề, tôi nghẹn ngào khâm phục. Mang nỗi oan khuất thấu trời xanh suốt mấy năm ròng, thử hỏi mấy ai thoát khỏi vòng thù hận? Vậy mà bác Đề sẵn sàng buông bỏ mọi sự tị hiềm cá nhân, giữ trọng lời dạy của các cụ ngày xưa, đón nhận tất cả bằng tấm lòng bao dung và vị tha. Đó chính là nhân cách sống cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, của người lính Cụ Hồ.

Nhìn bác Đề đang mệt, hai mắt lim dim, thở hổn hển. Con tim tôi nhói đau. Thương bác Đề vô cùng. Trong cuộc đời mình, bác ấy đã từng dang rộng vòng tay cưu mang, che chở, đỡ đầu cho biết bao thân phận "cơ nhỡ" trở thành những tài năng sáng giá của đất nước như nhà viết kịch lừng danh Lưu Quang Vũ, nhạc sĩ tài ba Phan Lạc Hoa... Tình yêu thương con người nơi ông dường như chưa bao giờ phai nhạt, chưa bao giờ vụt tắt. Phải chăng, con tim ông luôn chan chứa và tỏa sáng tình yêu thương con người vô bờ bến. Đến phút lâm chung của cuộc đời, trái tim bác Đề vẫn tiếp tục tỏa sáng, thứ ánh sáng nhân hậu, thủy chung và diệu kỳ.

Chợt bác Đề hướng mắt sang Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, gửi gắm ý nguyện cuối cùng. Giọng nói của bác Đề lúc này đứt quãng, run run:

Anh … Thảo à… Nhưng việc… đề nghị xét tặng Huân chương bậc cao… thì nên làm…-Nói đến đây ông lại ho. Cơn ho như kéo dài hơn. Đến lúc hết ho, bác Đề tiếp tục - Tôi nhờ các anh tiếp tục đề nghị với cấp trên. Tôi luôn tin rằng tổ chức sẽ công tâm, không để ai phải chịu thiệt thòi...

Thượng tướng siết chặt lấy bàn tay lạnh dần của người đồng đội, rơm rớm nước mắt:

- Chú cứ an tâm tĩnh dưỡng, ráng ăn uống và dùng thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ. Việc đề nghị phong tặng Huân chương bậc cao cho chú là hoàn toàn xứng đáng và có căn cứ pháp lý vững chắc. Chúng tôi vẫn đang tích cực làm việc với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện bằng được!

Khi chúng tôi đang túc trực bên bác Đề thì ông Tạ Cao Sơn (đại diện dòng họ) cùng anh Tạ Mạnh Tiến (con trai bác Đề) cũng bước vào. Ông Sơn cho biết gia đình đang khẩn trương làm đơn đề nghị cấp trên xét duyệt Huân chương bậc cao. Cũng không ngờ, đó lại là cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi với một huyền thoại sống.

Dù được gia đình, con cháu dốc lòng chăm sóc và tập thể y bác sĩ Bệnh viện Hữu Nghị tận tình cứu chữa, nhưng do tuổi cao sức kiệt, ông Tạ Đình Đề đã thanh thản trút hơi thở cuối cùng vào lúc 4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 17 tháng 01 năm 1998 (nhằm ngày 19 tháng Chạp năm Đinh Sửu), hưởng thọ 81 tuổi.

Tin ông ra đi đến với tôi vào một ngày dường như vạn vật đều chùng xuống. Dẫu biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của muôn đời, nhưng sự vĩnh biệt của ông vẫn để lại trong lòng tôi một khoảng trống hoang hoải, một nỗi xót thương vô hạn không thể diễn tả bằng lời. Ngồi lặng lẽ tại góc phòng, nhìn những vạt nắng nhạt màu rơi ngoài hiên cửa, tôi nghe tim mình trào dâng một nỗi nghẹn ngào. Thế là từ nay, cõi nhân gian đã vắng đi một nhân cách lớn, và riêng tôi, đã vĩnh viễn mất đi một người tri kỷ của những buổi sáng Chủ nhật ngọt ngào.

Đang nghĩ về ông, chợt ký ức ùa về như những thước phim quay chậm, rõ nét và ấm áp đến lạ kỳ. Tôi nhớ da diết những buổi sáng Chủ nhật thanh bình, khi sương sớm còn chưa tan hết trên những vòm lá, tôi lại tìm đến bên ông. Dường như đã thành một nếp quen tĩnh lặng, hai bác cháu lại quây quần bên góc thềm nhà, có lúc ngoài quán nước, cùng rót cho nhau chén trà xanh ủ nóng, nhâm nhi vị chát ngọt đầu ngày và chung nhau tiếng điếu cày giòn tan trong sương sớm. Khói thuốc lào cuộn xoắn, mờ ảo bay lên, mang theo cả những tâm tình, những câu chuyện hàn vi chưa bao giờ cạn. Trong làn khói mỏng mảnh ấy, hiện lên rạng rỡ khuôn mặt ông với ánh mắt tinh anh như chưa bao giờ vương bụi thời gian, cùng chất giọng sảng khoái, trầm ấm, vang vọng thể hiện sự từng trải của một con người đã đi qua biết bao thăng trầm, dâu bể.

Trong những buổi sớm mai bình dị ấy, ông đã đưa tôi ngược dòng thời gian, trở về với những năm tháng hoa lửa hào hùng. Qua lời kể của ông, một Hà Nội thời kháng chiến chống Pháp hiện lên sống động, nghẹt thở và bi tráng. Ở đó, có hình bóng của người chiến sĩ tình báo trẻ tuổi mang tên ông, mang trong mình trái tim rực lửa yêu nước, dấn thân vào những điệp vụ hiểm nguy trong lòng địch. Từ những ngõ hẻm của Thủ đô bị tạm chiếm, cho đến những năm tháng bám trụ kiên cường tại Liên khu 3, ông đã sống và chiến đấu bằng cả máu, nước mắt và một trí tuệ sắc sảo phi phàm. Nghe ông kể, tôi không chỉ thấy những chiến công thầm lặng, mà còn cảm nhận được nhịp đập can trường của một thế hệ đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nhưng ông không chỉ là một chiến binh dũng cảm trong trận mạc. Khi đất nước hòa bình, bước vào chặng đường xây dựng kinh tế, ông lại khoác lên mình tấm áo của một người quản lý kinh tế tài ba, một người "nhạc trưởng" đầy tâm huyết tại Xưởng dụng cụ cao su Đường Sắt. Trong ánh mắt lấp lánh niềm vui, ông kể về những đêm chong đèn trăn trở, những cuộc họp thâu đêm với anh chị em công nhân bàn về sáng kiến cải tiến kỹ thuật với khao khát làm sao để Xưởng dụng cụ cao su Đường Sắt, ngày càng vươn lên cả về kỹ thuật và năng xuất lao động. Với cương vị lãnh đạo, ông chưa bao giờ tự đặt mình là người “quyền cao, chức trọng”, trái lại, trái tim bao dung của ông luôn hướng về người thợ, tìm mọi cách bứt phá để có nhiều sáng kiến, cải tiến, nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống của người công nhân. Sự cương trực, mẫn cán và tình yêu thương con người của ông đã biến Xưởng dụng cụ cao su Đường không chỉ là nơi làm việc, mà còn là một mái nhà chung ấm áp tình đồng chí, đồng nghiệp. Lòng tôi trào dâng một niềm tự hào mãnh liệt về ông - người chiến binh không bao giờ ngơi nghỉ, dù ở mặt trận nào cũng tỏa sáng rực rỡ một chữ "Tâm".

Tuy nhiên, cuộc đời vốn dĩ không phải là một bức tranh chỉ có những gam màu tươi sáng. Đằng sau nụ cười sảng khoái và đôi mắt tinh anh ấy là những góc khuất đầy giông bão mà số phận đã khắc nghiệt giáng xuống đời ông. Khi giọng ông chùng xuống, kể về hai lần bị bắt giam oan và thậm chí phải đứng dưới vành móng ngựa chịu sự phán xét của Tòa án khi vướng vào vòng lao lý oan khiên, tim tôi như thắt lại. Xót xa thay cho một con người cống hiến trọn đời cho đất nước lại có lúc phải mang gông xiềng của những oan trái không ngờ. Nhưng điều khiến tôi nể phục nhất là cách ông đối diện với những nghịch cảnh ấy. Không oán thán, không thù hằn, ông bước qua giông bão bằng phong thái ung dung của một cây tùng, cây bách đứng vững giữa phong ba bão táp cuộc đời.

Cũng qua các buổi hàn huyên đó, tôi càng hiểu, ngọn hải đăng giữ cho con thuyền đời ông không bị đắm chìm trong bão táp, chính là tổ ấm gia đình, là người bạn đời tào khang - bà Đặng Thị Thọ. Khi nhắc đến bà, ánh mắt ông luôn ánh lên một sự dịu dàng và biết ơn vô hạn. Bà vốn là một tiểu thư đài các, con nhà trâm anh thế phiệt của đất Hà Thành, quen với lụa là gấm vóc. Thế nhưng, vì tình yêu với người lính cụ Hồ, bà đã rũ bỏ mọi hào quang của quá khứ để gắn bó đời mình với ông. Sự hy sinh thầm lặng của bà là một bản thiên thu ca về đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam.

Suốt những năm tháng dằng dặc hành quân ngoài mặt trận, cho đến những ngày đen tối nhất khi ông phải chịu cảnh giam cầm, đôi vai gầy guộc của người phụ nữ ấy đã gánh vác cả giang sơn nhà chồng. Bà chạy ngược chạy xuôi, bôn ba giữa dòng đời xuôi ngược, cắn răng chịu đựng bao tủi hờn, nhọc nhằn để lo cho các con từng bữa ăn, giấc ngủ, vun vén cho chúng ăn học thành người. Giữa giông bão, bà như một đóa hoa ngọc lan dẫu bị vùi dập vẫn kiên cường tỏa hương sắc, là điểm tựa tinh thần vững chắc để ông có thể vượt qua bóng tối của ngục tù. Chính vì sự cao cả ấy, có lần đến chơi nói chuyện với bác Thọ, cầm chén trà trên tay, tôi đã rưng rưng nói với bà: "Em cảm phục ông Đề một, thì với bác, sự kính trọng ấy phải nhân lên gấp mười lần..." Lời nói ấy không chỉ là sự hàm ơn, mà còn là sự xưng tụng chân thành nhất dành cho một người đàn bà suốt đời phấn đấu hy sinh vì bến đậu bình an.

Giờ đây, ấm trà sáng Chủ nhật đã vội nguội lạnh. Điếu thuốc lào nằm chỏng chơ không người châm lửa. Ông đã nhẹ gót trần ai, giã từ cõi tạm để bước vào chuyến viễn du cuối cùng của đời người. Ông đã về với trời xanh mây trắng, hóa thân thành những tia nắng bình minh ấm áp, rũ bỏ mọi vinh nhục oan khiên của kiếp nhân sinh.

Xin được cúi đầu tiễn biệt ông – người chiến sĩ kiên trung, người lãnh đạo tài ba, người chồng, người cha mẫu mực. Bụi thời gian có thể phủ mờ vạn vật, nhưng tôi tin chắc rằng, tâm hồn cao đẹp và nhân cách ngời sáng của ông, cùng với tình yêu vĩ đại của bà, sẽ hóa thành những vì sao bất diệt, sống mãi trong trái tim tôi và những người ở lại.

Mây trắng nay đã thong dong ngang trời. Chào tạm biệt ông, người tri kỷ của những sớm mai rực nắng. Cầu mong ông yên giấc ngàn thu nơi cõi tịnh bình!

Sau ngày đưa ông về với tiên tổ không lâu, tôi được Giáo sư - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo cho biết: Căn cứ vào ý nguyện của ông Đề, các cơ quan có liên quan đã tích cực, công tâm vào cuộc theo đơn đề nghị của bác Đề. Qua thẩm định kỹ lưỡng hồ sơ cống hiến, mọi cơ quan chức năng đều đồng thuận nhận định: Tạ Đình Đề là người hoàn toàn vô tội. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh to lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ông hoàn toàn xứng đáng được truy tặng Huân chương bậc cao.

Nhờ sự vào cuộc đầy trách nhiệm của Ban Tổ chức Trung ương, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Đảng ủy Đường sắt Việt Nam và Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương... đến ngày 21 tháng 5 năm 2007, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức ký quyết định truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho đồng chí Tạ Đình Đề. Đây là sự vinh danh vô cùng xứng đáng cho một tấm gương kiên trung, trọn đời tận trung với Đảng, tận hiến với dân...

Phần thưởng cao quý ấy dẫu đến muộn màng, nhưng mãi là nén tâm hương thành kính nhất thắp lên cho một cuộc đời lẫm liệt, một trái tim nhân hậu đã hóa thân vào cát bụi nhưng sẽ trường tồn mãi mãi trong niềm tin yêu của gia đình, đồng đội và nhân dân./.

Ảnh GS.Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và Tạ Đình Đề tại Thanh Oai Hà Tây (quê ông Tạ Đình Đề, nay là Hà Nội), năm 1993

GS.Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và tác giả tại dinh thự Thượng tướng (2003)

Từ khóa
#Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước
Dương Thanh Biểu

Dương Thanh Biểu

Tác giả
• CÙNG CHUYÊN ĐỀ

Tác Phẩm & Bài Viết Liên Quan

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế Truyện ký
17.09.2026 • 11 lượt xem

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế

Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm...

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng Tiểu thuyết
17.09.2026 • 9 lượt xem

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng

NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI... (Ấn tượng đọc “Hoa dành ngày gặp mặt”, tiểu thuyết của nhà văn Dương Thanh...

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Truyện ký
17.09.2026 • 10 lượt xem

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH

MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức...

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời Truyện ký
17.09.2026 • 9 lượt xem

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời

Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm...