Truyện ký
Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế
Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm...
MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức tưởng chừng như đông đặc dưới cái nắng như đổ lửa. Ngoài kia, hàng cây cổ thụ bóng râm dưới sân cơ quan đứng im lìm, những tán lá rủ xuống, không một g…
Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức tưởng chừng như đông đặc dưới cái nắng như đổ lửa. Ngoài kia, hàng cây cổ thụ bóng râm dưới sân cơ quan đứng im lìm, những tán lá rủ xuống, không một gợn gió. Trên trần nhà, chiếc quạt sắt ba cánh từ thời bao cấp đã hoen gỉ, quay hết công suất phát ra những tiếng cọc cạch khô khốc, chẳng đủ làm dịu đi cái rát bỏng trên da thịt người ngồi dưới.
Tôi đang cặm cụi nghiên cứu xấp tài liệu dày cộm thì tiếng chuông điện thoại bàn bỗng vang lên đột ngột, xé toang sự tĩnh lặng trầm mặc của không gian trưa muộn. Tôi nhấc máy. Đầu dây bên kia là giọng nói gấp gáp quen thuộc của một anh bạn đồng đội cũ, người đã từng cùng tôi vào sinh ra tử, nếm mật nằm gai trên mảnh đất Tây Nguyên rực lửa năm xưa. Giọng anh có phần hấp tấp, đầy lo lắng báo tin rằng bác Nguyệt, phu nhân của Thủ trưởng Thảo, đang đổ bệnh nặng, nằm bẹp ở nhà suốt mấy ngày nay rồi.
Nghe đến đó, lồng ngực tôi như thắt lại, một cảm giác lo âu như dòng điện chạy dọc sống lưng. Hình ảnh người chỉ huy kính yêu - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo - vị tướng lừng lẫy và người phu nhân hiền hậu, đoan trang của ông lập tức hiện lên vẹn nguyên trong tâm trí tôi. Không một chút chần chừ, tôi vội vã tìm số điện thoại của Thủ trưởng Thảo để dò hỏi tình hình. Tiếng tút dài đều đặn vang lên trong ống nghe đầy sốt ruột, nhưng qua nhiều hồi chuông vẫn không có người tiếp quản máy. Nhìn đồng hồ đã điểm gần một giờ chiều, tôi thầm nghĩ có lẽ Thủ trưởng lại đang bận rộn với những cuộc họp hay nghiên cứu khoa học quân sự chưa ngơi tay.
Sáng Chủ nhật, Hà Nội đón tôi bằng không khí dịu mát sau trận mưa rào đêm qua. Dắt chiếc Honda cũ kỹ ra cổng, lòng tôi đã trào dâng bao niềm nôn nao khó tả. Quãng đường tìm đến nhà Thủ trưởng Thảo tại số 69 phố Phùng Chí Kiên phải băng qua bao con phố đông đúc, ồn ào, nhưng tâm trí tôi đã sớm ngược dòng thời gian về với chiến trường Tây Nguyên khốc liệt. Tiếng xe cọc cạch như nhịp cầu đưa tôi về lại với những ngày tập huấn căng thẳng tại Mặt trận Tây Nguyên, về trận Đắc Xiêng oanh liệt hay chiến dịch Võ Định rực lửa đầu năm 1973. Mỗi khi trái gió trở trời, vết thương cũ sau lưng lại nhói đau, nhưng chính những ký ức ấm áp về người Thủ trưởng- người đã ân cần vào viện thăm nom, gạt đi bao âu lo khi tôi mổ gắp mảnh đạn - đã trở thành liều thuốc tinh thần diệu kỳ. Tình cảm đồng đội như anh em ruột thịt ấy, cái đạo lý thủy chung giữa người chỉ huy và người chiến sĩ ấy chưa bao giờ phai nhạt, vẫn vẹn nguyên và theo tôi suốt năm tháng cuộc đời.
Mải mê đuổi theo dòng suy nghĩ miên man, tôi đã đến đầu phố Phùng Chí Kiên từ lúc nào không hay. Giảm ga cho xe chạy chậm lại, tôi tìm kiếm số nhà 69. Ngôi nhà của vị Thượng tướng hiện ra trước mắt tôi đầy bất ngờ - một không gian giản dị, thanh bình, hoàn toàn vắng bóng sự bề thế hay xa hoa của một bậc công thần quốc gia. Nơi đây toát lên vẻ tao nhã, khiêm nhường như chính nhân cách của chủ nhân nó. Khóm hoa giấy trước cổng đang mùa nở rộ, những cánh hoa màu hồng tím khẽ rung rinh trong gió muộn, tựa như một nét chấm phá lãng mạn, nhẹ nhàng giữa lòng thành phố náo nhiệt.
Tôi dừng xe, lặng lẽ chỉnh đốn lại nếp áo cho thật chỉnh tề, ngực phập phồng một nỗi bồi hồi khó tả trước khi khẽ gõ lên cánh cửa gỗ. Cửa mở, và hiện ra ngay trước mắt tôi chính là Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Vị tướng huyền thoại từng cầm quân lộng gió khắp dải Tây Nguyên đứng đó, mái đầu đã dầm sương trắng xóa. Vầng trán cao hằn sâu những nếp nhăn thời gian và biết bao đêm trắng thao thức vì vận mệnh giang sơn.
Trái ngược với sự khốc liệt nơi chiến trường, đôi mắt ông lúc này bao la một dải hiền từ, ấm áp vô ngần, tuyệt nhiên không còn chút uy nghiêm hay lạnh lùng của vị Tư lệnh Mặt trận năm nào. Ông khoác bộ quần áo giản dị ở nhà, nụ cười đôn hậu bừng sáng ngay khi nhận ra người lính cũ. Chẳng chút khoảng cách, ông đổi cách xưng hô đầy trìu mến, cất giọng trầm ấm như người anh ruột thịt đón đứa em xa nhà trở về:
- Biểu à! Quý hóa quá. Vào nhà đi em.
Bước chân vào phòng khách, tôi lặng người trước vẻ ngăn nắp và thanh tịnh đến lạ kỳ. Căn phòng ngập tràn hương thơm của tri thức với hàng ngàn cuốn sách quân sự, lịch sử, triết học xếp chật kín những kệ gỗ cao chạm trần. Nhìn bóng dáng Thượng tướng đang lom khom bên bàn nước, tim tôi bất giác nhói lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Đôi bàn tay ấy - đôi bàn tay từng phác thảo nên những bản đồ tác chiến nghi binh lẫy lừng khiến kẻ mắc mưu, sụp đổ thất bại thảm hại - nay đang ân cần nâng chiếc ấm đất nung chuẩn bị pha trà đón tôi. Nhìn dải lưng can trường năm xưa nay đã nhuốm màu bóng ngả thời gian, mắt tôi chực nhòe đi. Tôi vội vàng bước tới, nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc ấm từ tay ông, cúi đầu gửi gắm tất cả sự kính trọng và nghĩa tình đồng đội sâu nặng:
- Xin phép Thủ trưởng để em pha trà cho.
Thủ trưởng Thảo khẽ cười, rồi ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện:
- Em lúc nào cũng khách sáo, giờ đã hòa bình rồi, không còn ở chiến trường hiểm nguy ngày xưa nữa.
Tôi mỉm cười lặng lẽ, thuần thục súc ấm bằng nước sôi, cho một nắm chè cánh mảnh vào lòng ấm rồi từ từ chế dòng nước nóng từ chiếc phích Rạng Đông đặt bên cạnh. Chỉ vài giây sau, làn khói nóng mang theo hương vị chè Thái Nguyên thơm ngào ngạt, tinh khiết lan tỏa khắp gian phòng khách nhỏ. Tôi cẩn thận rót trà ra hai chiếc chén sứ, cung kính nâng chén bằng hai tay:
- Em mời Thủ trưởng xơi nước.
Nhấp một ngụm trà nhỏ, vị chát nhẹ nơi đầu lưỡi nhanh chóng chuyển thành vị ngọt thanh tao nơi cổ họng. Nhìn chăm chú vào khuôn mặt có phần mỏi mệt, phảng phất nét lo âu của ông, tôi khẽ khàng:
- Bác gái ốm thế nào hả Thủ trưởng? Cho em thăm bác gái nhé.
Thủ trưởng Thảo đặt chén nước xuống bàn nghe một tiếng cạch nhỏ khô khốc, khẽ thở dài đầy lo âu, đôi mắt nhìn về phía cánh cửa khép hờ ở góc phòng. Giọng ông trầm xuống:
- Nhà tôi bị cảm sốt mấy ngày nay, tuổi già sức yếu nên cứ mỗi bận trái gió trở trời là cơ thể lại đổ bệnh. Ta xuống phòng bà ấy nhé.
Tôi vội đứng dậy, lặng lẽ bước theo bóng lưng trĩu nặng của Thủ trưởng hướng về phía căn phòng ngủ bên cạnh. Khi bước chân vừa chạm đến căn phòng, cánh cửa gỗ mới khẽ hé thì một tràng ho khan dài dằng dặc quyện cùng tiếng nôn ọe nghẹn đắng từ bên trong vọng ra, nghe xé lòng. Lồng ngực tôi chợt thắt lại, nhói lên từng hồi xót xa. Qua khe cửa mỏng, tim tôi chùng xuống khi thấy bác Nguyệt đã gầy xanh đi nhiều so với những lần gặp trước. Bác nằm co ro trên chiếc giường nhỏ, gương mặt hốc hác, đôi vai gầy guộc run lên bần bật theo từng cơn ho rút ruột rút gan. Ngắm nhìn vóc dáng bác Nguyệt, lòng tôi dâng lên niềm đau như xát muối, chợt thấu suốt đến nghẹn ngào quy luật nghiệt ngã của muôn đời: Sinh, lão, bệnh, tử... rốt cuộc chẳng một ai có thể bước qua.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, trong lòng tôi trào dâng một nỗi sốt ruột khôn tả, muốn lao vào đỡ đần. Nhưng tôi đã khựng lại, lặng người khi chứng kiến hành động tiếp theo của Thủ trưởng Thảo. Một vị tướng từng điều binh khiển tướng, chỉ huy hàng bao nhiêu chiến dịch, làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch, khiến quân thừ thất bại thảm hại, nhưng lúc này thấy ông bước đi vô cùng nhẹ nhàng, uyển chuyển như sợ làm tổn thương bầu không khí quanh người vợ tảo tần yêu quý của mình. Cảnh tượng ấy bộc lộ trọn vẹn phẩm chất trọn nghĩa vẹn tình của vị tướng trọn nghĩa vẹn tình.
Ông cúi người xuống chiếc bàn nhỏ đầu giường, cẩn thận lấy thuốc theo đúng liều lượng chỉ định. Chẳng cần đến sự trợ giúp của bất kỳ ai, một tay ông nâng nhẹ lưng bác gái lên, để bác dựa hẳn vào bờ vai vững chãi của mình - bờ vai từng gánh vác giông bão cuộc đời và vận mệnh non sông. Tay kia ông cầm cốc nước ấm, ân cần đưa lên tận môi bác. Giọng nói của vị Tư lệnh oai hùng trên mặt trận ngày nào giờ đây bỗng trở nên trầm ấm, ngọt ngào và dỗ dành như đang chăm sóc một đứa trẻ:
- Bà chịu khó uống viên thuốc này cho dịu cơn ho nhé.
Bác Nguyệt khó nhọc nhấp từng ngụm nước, nuốt trôi những viên thuốc đắng trong sự quan tâm của chồng. Thủ trưởng Thảo lấy chiếc khăn bông mềm mại đã chuẩn bị sẵn, nhẹ nhàng và tỉ mỉ lau đi những giọt nước mắt ứa ra do cơn ho dữ dội, rồi âu yếm lau sạch khóe miệng cho vợ.
Chứng kiến khoảnh khắc lay động từng nhịp đập tâm can ấy, lòng tôi chợt dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Tôi hiểu rằng, người đời vốn kính phục ông như một bậc đại trí, đại dũng giữa trận mạc xông pha, nhưng chính nơi góc nhỏ bình yên bên người bạn đời, ông mới hiện thân trọn vẹn nhất là một tấm lòng đại nhân, đại tình. Với Tổ quốc, ông gánh trên vai trách nhiệm lớn lao của một vị tướng mưu lược; nhưng khi trở về bên người tri kỷ, ông lại dành trọn một tình yêu thủy chung son sắt, thắm thiết và vẹn tròn. Mỗi ánh mắt ông nhìn bà, mỗi cử chỉ săn sóc dẫu là nhỏ nhặt nhất, đều đong đầy sự tinh tế, tôn trọng và nâng niu đến từng hơi thở. Tình cảm ấy chẳng cần đến những lời thề nguyền hoa mỹ, bởi nó đã kết tinh thành đại ân đại nghĩa -một tình yêu thầm lặng mà sâu thẳm như biển trời.
Thuốc ngấm, cơn ho của bác Nguyệt dần dịu lại. Lúc này, tôi mới nhẹ nhàng bước vào, đặt túi cam tươi - chút quà giản dị tự tay tôi chọn dọc đường - lên chiếc bàn nhỏ. Hướng ánh mắt về phía phu nhân Thượng tướng. Sợ bác không nhận ra, tôi lễ phép:
- Em xin chào bác Nguyệt. Em là Biểu, lính cũ của Thủ trưởng Thảo từ chiến trường Tây Nguyên đây. Nghe tin bác mệt nên em đến thăm và chúc bác mau chóng hồi phục.
Nghe tôi thay đổi cách gọi thân thương, Thủ trưởng Thảo đứng bên cạnh khẽ gật đầu, ánh mắt toát lên nét hài lòng và cảm kích. Bác Nguyệt nhấp thêm ngụm nước lọc cho thấm giọng, nhìn tôi bằng ánh mắt hiền từ của một người mẹ:
- Cảm ơn em. Em dạo này làm ở đâu vậy?
Tôi nhìn bác Nguyệt, nở nụ cười kính cẩn:
- Báo cáo bác. Sau khi bị thương ở chiến trường, em ra Bắc điều trị rồi chuyển ngành về công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao ạ.
Thủ trưởng Thảo lúc này đã ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường. Ông nhìn vợ rồi tiếp lời, giọng đong đầy niềm tự hào:
- Chắc bà còn nhớ người mà lần trước tôi từng kể chứ? Chú Biểu đây trước là Đại đội trưởng xuất sắc của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28 lừng danh đấy. Mấy năm ở chiến trường, chú ấy chiến đấu kiên cường lắm, bị thương nặng mới phải ra Bắc điều trị, mới rồi lại vừa trải qua ca mổ để gắp nốt mảnh đạn sau cột sông. Thế mà vì nghĩa tình đồng đội, chú ấy vẫn lặn lội đường xa đến tận nhà thăm vợ chồng mình... Thật đáng quý biết bao!
Câu chuyện giữa ba chúng tôi đang trở nên ấm áp, thân tình thì ngoài cổng có tiếng chuông. Thủ trưởng Thảo phải ra phòng ngoài tiếp khách. Căn phòng ngủ lúc này chỉ còn tôi và bác Nguyệt. Không gian trở nên tĩnh lặng hơn, chỉ có tiếng gió khẽ lay động tấm rèm cửa sổ. Thú thật, biết ông từ thời chiến trận cho đến khi hòa bình, nhưng tôi chưa bao giờ tìm hiểu sâu về hoàn cảnh gia đình của hai bác. Nhìn bác Nguyệt đang ngồi tĩnh lặng, tôi khẽ lên tiếng:
- Em xin hỏi, gia đình bác có mấy anh em ạ?
Nghe tôi hỏi, bác Nguyệt mỉm cười, nét cười làm bừng sáng khuôn mặt còn vương nét mỏi mệt vì trận sốt cảm, chia sẻ:
- Nhà tôi có ba anh em trai, hôm nay ngày nghỉ nên các cháu xin phép đi chơi cả rồi.
Tôi gật đầu thấu hiểu sâu sắc niềm hạnh phúc bình dị ấy. Đúng lúc đó, Thủ trưởng Thảo từ phòng khách bước vào. Thấy tôi và bác Nguyệt đang trò chuyện sôi nổi, không khí trong phòng không còn vẻ ảm đạm, ông tỏ ra rất vui vẻ. Ông bước tới, nhẹ nhàng ngồi xuống mép giường bên cạnh bác Nguyệt, tay khẽ đặt lên mu bàn tay của vợ như một thói quen che chở suốt mấy chục năm qua. Ông nhìn bác Nguyệt nhẹ nhàng:
- Bây giờ chúng ta ra phòng khách nói chuyện cho thoáng mát.
Bác Nguyệt khẽ gật đầu, gượng nhẹ đứng dậy. Thủ trưởng Thảo ân cần đỡ lấy khuỷu tay vợ, dìu bà từng bước chậm rãi, cẩn trọng đi ra ngoài. Tôi lặng lẽ bước theo sau hai người, ngắm nhìn bóng dáng hai mái đầu bạc tựa vào nhau, lòng thầm nghĩ về cái gọi là "tình già" - thứ tình cảm thiêng liêng tuyệt vời nhất, chỉ cần những cái đỡ tay vững chãi khi đã cận kề dốc bên kia của cuộc đời.
Chiếc quạt trần nhịp nhàng lướt qua khoảng trầm thanh tịnh của phòng khách, đan cài hương chè Thái Nguyên thanh tao vào từng khoảnh khắc bình yên. Chiêm ngưỡng vị Thượng tướng mưu lược của Quân đội nhân dân Việt Nam - người từng chỉ huy muôn vàn trận mạc gian nguy - nay lại dịu dàng, ân cần rót từng chén nước ấm, lòng tôi chợt bừng sáng một chân lý vừa mộc mạc lại xiết bao vĩ đại.
Hóa ra, đỉnh cao nhân cách của một vị tướng tài ba không chỉ được đo bằng những tấm huân chương lấp lánh trên ngực áo, hay những chiến công oanh liệt được khắc son ghi vàng vào lịch sử. Vẻ đẹp lộng lẫy nhất của đời binh nghiệp lại lắng đọng trọn vẹn nơi tình yêu sâu thẳm, sự nâng niu tuyệt đối mà ông dành cho người bạn đời tri kỷ - người phụ nữ đã cùng ông đi qua muôn trùng giông bão.
Rời xa khói bom trận mạc và những quyết định mưu lược sinh tử, làm xoay chuyển cục diện của chiến dịch, vị Thượng tướng ấy trở về vẹn nguyên với bản ngã ngọt ngào nhất: một người chồng thủy chung, sắt son và đầy bao dung. Đôi bàn tay từng thao lược vẽ nên những bản đồ tác chiến đầy mưu lược năm xưa, nay lại tỉ mỉ, mềm mại vun vén từng chút cho tổ ấm nhỏ, dùng hơi ấm từ trái tim gang thép để sưởi ấm người vợ yêu quý. Ông chính là biểu tượng rực rỡ nhất về một đời người "trọn nghĩa với non sông, vẹn tình cùng bến đậu" - nơi mọi hào quang trận mạc đều nhường chỗ cho sự tôn kính và tình yêu vĩnh cửu dành cho vị "nữ tướng" của cuộc đời mình.
Căn phòng khách tại nhà 69 phố Phùng Chí Kiên trưa hôm ấy ngập tràn một bầu không khí ấm cúng. Nắng mùa hè Hà Nội như những vệt mật ong đậm đặc đổ dài qua khung cửa sổ, chiếu lên những kỷ vật nhuốm màu sương gió của một đời binh nghiệp. Thượng tướng Thảo và bác Nguyệt ngồi tựa lưng cạnh nhau trên chiếc ghế bành dài đã sờn cốt vải. Tôi ngồi ở phía đối diện, lòng đầy niềm ngưỡng mộ và một cảm giác thân thuộc đến lạ kỳ.
Nhìn ấm trà trên bàn, tôi nhanh nhảu lấy phích nước, rót thêm nước vào ấm. Đợi vài giây cho trà ngấm, tôi cung kính rót ra hai chén trà mới. Khói trà mang theo hương thơm dịu nhẹ, thanh khiết tỏa lan trong không gian, bảng lảng như làn sương mỏng:
- Em mời hai bác xơi nước ạ.
Trong khoảnh khắc khói trà bay lên, tầm mắt của tôi vô tình hướng lên bức tường đối diện. Ở nơi trang trọng nhất của gian phòng, treo một bức ảnh đen trắng đã nhuốm màu thời gian. Bức ảnh được viền khung gỗ trang trọng, lưu giữ gương mặt của một người con gái thuở mười tám, đôi mươi. Đó chính là bức chân dung của bác Nguyệt chụp thời con gái - thuở bác còn là một cô nữ sinh trung học của đất Hà Thành văn hiến.
Tôi ngắm kỹ bức ảnh. Trong khuôn hình đen trắng của những thập niên trước, bác Nguyệt hiện lên với một vẻ đẹp đài các, thanh tú vô ngần, một vẻ đẹp không lẫn vào đâu được của con gái kinh kỳ. Mái tóc đen dài buông xõa mượt mà cơ hồ như một làn mây phủ ngang vai, đôi mắt sáng trong veo, thăm thẳm và có nét buồn gợn nhẹ như nước Hồ Tây lúc chớm heo may. Đặc biệt là nụ cười của bác, rạng rỡ, tươi tắn, thanh bạch như một bông hoa vừa chớm nở giữa sương sớm mùa xuân. Bức ảnh ấy giống như một lát cắt thời gian, đóng băng lại tất cả sự thanh lịch, kiêu sa của một Hà Nội xưa cũ.
Tôi mở to mắt nhìn bức ảnh như muốn thu hết những đường nét tuyệt mỹ ấy vào tâm trí, rồi khẽ quay sang ngắm nhìn bác Nguyệt ngoài đời thực. Lạ thay, cái thần thái kiêu sa, đôi mắt trong veo ấy thì dường như thời gian bất lực không thể xóa nhòa. Tôi lại liếc sang Thủ trưởng Thảo - vị tướng huyền thoại của những chiến dịch nghi binh lừng lẫy, với vẻ phong trần, cương nghị của một thời trận mạc. Một ý nghĩ hóm hỉnh chợt lóe lên trong đầu. Với giọng nửa đùa nửa thật nhưng đong đầy sự ngưỡng mộ tự đáy lòng, tôi nhìn Thủ trưởng Thảo:
- Thủ trưởng ơi, nhìn tấm ảnh này thì em khẳng định, ngày xưa bác Nguyệt nhà mình phải là một tuyệt sắc giai nhân, vừa hào hoa lại vừa thanh lịch đúng chất con gái Hà Nội gốc. Trong khi đó, ngày ấy Thủ trưởng lại là bộ đội, lính chiến trường thì cứ nay đây mai đó, gió bụi phong trần, không hiểu sao lại tán đổ được cô nữ sinh xinh đẹp, tài hoa thế này. Chắc chắn là lúc đó Thủ trưởng nhà mình không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là người hào hoa, phong nhã, khéo tán lắm đúng không bác Nguyệt?
Lời nói của tôi vừa dứt, không gian căn phòng khách bỗng chừng như vỡ òa ra trong niềm vui phấn khích. Cả hai bác cùng quay sang nhìn nhau rồi bật cười giòn tan. Tiếng cười của vị Thượng tướng già nghe vang, trầm hùng và sảng khoái lạ thường. Đó là tiếng cười của một người đã đi qua trận mạc sinh tử, nay được trở về với những niềm vui dung dị nhất của đời thường, xua tan cái không khí ngột ngạt, oi nồng của buổi trưa hè Hà Nội.
Còn bác Nguyệt, nghe tôi trêu thì đôi gò má nhăn nheo chợt ửng hồng lên một nét thẹn thùng con gái. Nét duyên dáng, e ấp ấy dường như chẳng khác là bao so với cô nữ sinh năm nào trong bức ảnh trên tường. Cái khoảnh khắc hai ông bà nhìn nhau cười, một người sảng khoái hào hùng, một người e lệ dịu dàng, tạo nên một bức tranh gia đình đẹp đẽ đến nao lòng.
Tuy nhiên, sau tràng cười giòn giã đầy kỷ niệm ấy, bác Nguyệt khẽ lắc đầu. Bác quay sang nhìn người bạn đời bằng ánh mắt chan chứa yêu thương và một sự thấu hiểu sâu sắc. Rồi từ tốn, bác quay sang nhìn tôi, giải thích bằng một giọng trầm xuống, nhẹ nhàng như đang lật giở lại từng trang sách cuộc đời được viết bằng mực của ký ức và nước mắt:
- Không phải như anh Biểu nghĩ đâu. Thời đó, làm gì có chuyện lãng mạn, đón đưa như thanh niên thời bây giờ. Trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân, gian khổ và khốc liệt lắm, sống chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Gia đình tôi khi ấy phải rời Hà Nội phồn hoa để tản cư về vùng nông thôn Nam Định. Cuộc gặp gỡ và nên duyên của chúng tôi hoàn toàn là nhờ sự mai mối của người lớn, nhờ cái duyên, số dẫn dắt, chứ làm gì có điều kiện mà tìm hiểu hay tán tỉnh nhau.
Nghe bác Nguyệt kể đến đó, tôi càng thêm tò mò, sự kính phục đối với vị Thủ trưởng kính yêu lại tăng lên gấp bội. Tôi quay sang nhìn Thủ trưởng Thảo, đôi mắt lấp lánh sự phấn khích:
- Dù có người mai mối nhưng em vô cùng bái phục Thủ trưởng. Thủ trưởng đánh giặc mưu lược, tài điều binh khiển tướng thì mọi người đều biết. Nhưng chuyện hỏi vợ, chọn bạn đời mà Thủ trưởng cũng tìm được một người tuyệt vời, trọn vẹn đức hạnh như bác Nguyệt đây thì đúng là tài nghệ của Thủ trưởng là bách chiến bách thắng, đánh đâu thắng đó, không chỉ trên sa trường mà cả trên tình trường nữa rồi ạ!
Thủ trưởng Thảo nhìn bác Nguyệt, rồi quay sang nhìn tôi. Ông cười tủm tỉm, nụ cười hiền hậu, gương mặt ngời sáng vẻ đôn hậu. Ông xua tay, lắc đầu lia lịa:
- Cậu lại quá khen rồi. Ngày trước bộ đội chúng mình thô mộc, giản dị lắm, suốt ngày chỉ biết súng đạn với công sự, đầu óc chỉ nghĩ làm sao đánh thắng giặc, bảo toàn lực lượng, có biết lãng mạn hay nói lời đường mật gì đâu. Chuyện của chúng tôi thực ra là một cái duyên kỳ lạ của số phận. Chuyện là thế này, dạo ấy thân phụ của cô Nguyệt là cụ Vũ Đình Hải, một cán bộ cấp sở của chính quyền kháng chiến. Cụ Vũ Đình Hải có người em là Giáo sư Vũ Đình Lai - người sau này là Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải. Tôi vốn có mối quan hệ quen biết, thân thiết và rất kính trọng bác Vũ Đình Lai. Chính bác Lai là người đã đứng ra làm mai mối giới thiệu cô Nguyệt cho tôi đấy chứ.
Nghe đến đây, câu chuyện bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn, ly kỳ và lôi cuốn tôi như một cuốn tiểu thuyết lãng mạn thời chiến. Tôi không giấu nổi sự phấn khích của một người lính đang được tiếp cận với những bí mật đời tư đầy nhân văn của Thủ trưởng mình. Tôi tiếp tục đổi cách xưng hô sang thành "bác" và "em" để tăng thêm phần thân tình, ruột thịt:
- Ôi, thế hả bác? Câu chuyện nghe ly kỳ quá! Ngày đầu tiên bác Lai đứng ra làm ông Tơ bà Nguyệt, giới thiệu hai bác với nhau chắc là phải có nhiều kỷ niệm vui và thú vị lắm đúng không ạ? Bác bật mí cho em nghe chi tiết một chút thì tuyệt vời!
Thủ trưởng Thảo bỗng nhìn tôi cười, lắc đầu. Nụ cười trên môi ông mang một nét hóm hỉnh nhưng đôi mắt lại thoáng đượm một vẻ bùi ngùi, xa xăm:
- Nào có được gặp mặt nhau, trò chuyện gì đâu. Đó là vào khoảng cuối năm 1948. Lúc bấy giờ, tôi đang là Tư lệnh Chiến khu 3. Tình hình chiến sự ở vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc đó vô cùng phức tạp, ngày đêm phải lo đối phó với các cuộc càn quét của địch. Thời gian này tôi cũng ngót nghét gần ba mươi rồi - cái tuổi mà ở quê thời bấy giờ bị coi là "ế" to. Trong khi đó, hoàn cảnh gia đình tôi cũng rất ngặt nghèo. Bố mẹ tôi đều đã mất sớm. Mỗi lần có dịp ghé qua quê hay gặp gỡ anh em, họ hàng bà con, ai cũng sốt ruột thay cho tôi. Họ cứ xúm vào giục tôi phải mau chóng tính chuyện lấy vợ để yên bề gia thất, có người nâng khăn sửa túi, để yên tâm đánh giặc.
Thủ trưởng nhấp thêm một ngụm trà Thái ấm. Đôi mắt ông nheo lại, cái nhìn hướng vào cõi mơ hồ như đang xuyên qua bức tường thời gian để nhìn thấy rõ mồn một không gian của gần sáu mươi năm về trước, nơi chiến khu đang rền vang tiếng bom đạn:
- Trong một lần đàm đạo với bác Vũ Đình Lai, tôi có đem câu chuyện bị họ hàng giục giã chuyện trăm năm này ra tâm sự. Lúc đó cũng chỉ là câu chuyện vui bên chén rượu nhạt, vừa là chia sẻ thật lòng nỗi niềm của một người lính chưa vợ. Nghe tôi nói xong, bác Lai gật đầu suy nghĩ một lát, gương mặt cụ chợt rạng rỡ hẳn lên. Rồi cụ bất ngờ mở chiếc ví da đã sờn góc, rút ra hai bức ảnh đen trắng nhỏ bằng hộp diêm đưa tôi xem. Bác Lai bảo: "Đây là hai đứa cháu gái của tôi, anh xem có ưng cô nào không, để tôi làm mối cho". Tôi cầm hai bức ảnh lên, ngắm nghía mãi dưới ánh đèn dầu mập mờ, nơi lán trại chiến khu. Phải công nhận cả hai cô nàng trong ảnh đều rất xinh đẹp, gương mặt thanh tú, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười, đúng là lá ngọc cành vàng. Nhưng không hiểu sao, như có một luồng điện, một cái duyên định mệnh, ánh mắt của tôi cứ bị cuốn hút đặc biệt bởi gương mặt của cô Nguyệt. Gương mặt ấy có một cái gì đó rất thanh tao, dịu dàng đúng chất tiểu thư, nhưng ẩn sâu trong đôi mắt lại là một sự kiên cường, bản lĩnh chịu thương chịu khó. Tôi quyết định chọn hình ảnh của cô Nguyệt.
Thủ trưởng Thảo khẽ liếc nhìn vợ, giọng ông đầy vẻ tự hào và trìu mến khôn nguôi:
- Lúc đó, bác Lai cười khà khà vỗ đùi rồi giới thiệu thêm: "Anh chọn tinh đấy! Cô Nguyệt là con gái đất Hà Thành gốc, nhà lại thuộc hàng gia thế, trí thức nề nếp. Cô ấy không chỉ hát hay, học giỏi, nết na mà hiện đang là một nữ sinh trung học có tiếng. Hiện tại, cô ấy đang cùng gia đình sơ tán về vùng tự do ở Nam Định". Nghe bác Lai giới thiệu lý lịch tuyệt vời như thế, lại thêm cái cảm giác rung động, con tim tôi đập lỗi nhịp ngay từ cái nhìn đầu tiên qua bức ảnh đen trắng. Tôi gật đầu ưng luôn ngay lập tức mà không cần đắn đo, suy nghĩ gì thêm nữa. Tôi tin vào trực giác của mình, tin vào cái duyên số mà ông Trời đã định sẵn.
Nghe Thủ trưởng Thảo kể chuyện một cách hào hứng, chân thành và sống động như vậy, tôi quay sang nhìn bác Nguyệt. Lúc này, tôi thấy bác đang mỉm cười rất tươi, ánh mắt lấp lánh niềm hạnh phúc viên mãn, một thứ hạnh phúc vàng son được thử thách qua lửa đỏ và thời gian. Bác ngồi yên lặng, lắng nghe người chồng nhắc lại cái thuở "yêu qua ảnh" đầy ly kỳ và lãng mạn thủa ấy của hai người.
Trong lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào, ấm áp. Tình yêu thời chiến sao mà giản dị, trong sáng, mộc mạc mà lại thiêng liêng, chung thủy đến thế! Chỉ qua một bức ảnh đen trắng nhỏ nhoi, qua lời giới thiệu chân tình của một người bề trên, mà hai tâm hồn ở hai thế giới hoàn toàn khác nhau - một vị Tư lệnh phong trần, dày dạn sương gió, cả đời quen với tiếng súng bom, và một cô nữ sinh đài các, quen với tiếng đàn tiếng sách - đã hòa chung một nhịp đập, giữ chặt tay nhau, đi qua năm tháng rộng dài, biến mọi bão giông ngoài kia trở thành bình yên sau cánh cửa của bến đậu nghĩa tình.
Tôi nhấp một ngụm nước, nén lại sự xúc động, nhìn sâu vào mắt Thủ trưởng Thảo rồi quay sang nhìn bác Nguyệt. Giọng tôi bỗng chùng xuống, đượm vẻ bùi ngùi, đồng cảm:
- Câu chuyện tình yêu của hai bác thực sự đẹp vô ngần tựa như câu chuyện cổ tích giữa đời thường mà chúng em cứ ngỡ chỉ có trong sách vở. Nhưng em chợt nghĩ, lúc đó thân phụ và thân mẫu của bác Thảo mất sớm, vậy thì ai là người đứng mũi chịu sào, đại diện cho đằng nhà trai để lo liệu, tổ chức đám cưới?
Thủ trưởng Thảo gật đầu, nhìn người vợ yêu quý của mình với ánh mắt vỗ về, tràn ngập sự che chở và tình yêu thương bao la, rồi quay sang nhìn tôi. Ông tiếp tục kể bằng một giọng điệu đầy hào hứng, mạnh mẽ:
- Dạo ấy, khoảng năm 1948 – 1949, đất nước đang bước vào giai đoạn kháng chiến rất gian khổ, ác liệt. Gia đình cô Nguyệt bấy giờ đang sơ tán tại một vùng quê ở Nam Định. Vì bố mẹ tôi đã khuất núi từ lâu, tôi lại ở xa nên mọi việc tổ chức đám cưới đều được thân phụ, thân mẫu của cô Nguyệt cùng với các đồng chí, đồng đội trong Ban chỉ huy Chiến khu 3 của tôi xắn tay vào hỗ trợ, lo liệu từ A đến Z. Đằng nhà trai chính là Bộ tư lệnh Chiến khu đấy cậu ạ!
Thủ trưởng Thảo nhấp ngụm nước, nở nụ cười làm nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại, đong đầy nét hoài niệm vàng son:
- Đám cưới thời đó được tổ chức giản dị lắm. Chỉ vỏn vẹn có mấy mâm cơm liên hoan đơn sơ với những món ăn cây nhà lá vườn do chính anh em chiến sĩ, đồng đội tự tăng gia sản xuất được, kèm theo vài đĩa bánh kẹo chanh, ấm trà xanh hái ngoài vườn. Khách mời cũng chỉ có gia đình nhà gái và mấy anh em trong Bộ chỉ huy Chiến khu tranh thủ tạt qua. Tuy giản dị, thiếu thốn trăm bề về vật chất, nhưng đám cưới diễn ra vô cùng ấm cúng, đong đầy tình đồng chí, nghĩa đồng bào, ấm áp tình làng nghĩa xóm nơi tản cư. Đến tận bây giờ, khi đã là một ông già tóc bạc, tôi vẫn luôn thầm cảm ơn nhạc phụ, nhạc mẫu và những người đồng đội năm ấy đã đứng ra vun vén, bao bọc, để tôi có được người bạn đời tuyệt vời như ngày hôm nay.
Ngồi nghe hai bác kể chuyện, tôi cảm giác như mình đang được lật giở một cuốn biên niên sử bằng vàng của một thế hệ vàng - thế hệ của những con người sống vì lý tưởng, vì độc lập tự do của dân tộc. Đám cưới của họ giản dị, mộc mạc, nhưng lại chứa đựng một sức mạnh tinh thần lớn lao, một thứ tình cảm thuần khiết, nghĩa tình ấm áp.
Nghe Thủ trưởng nói đến đây, trong đầu một người lính chiến như tôi lại tiếp tục nảy sinh một niềm trăn trở. Tôi hiểu rất rõ bối cảnh lịch sử cam go bấy giờ. Sau năm 1948, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn rất quyết liệt. Trên cương vị là một Tư lệnh Chiến khu, Thủ trưởng Thảo chắc chắn phải bám sát chiến trường, nay đây mai đó, đầu tắt mặt tối với những kế hoạch tác chiến, những trận đánh sinh tử, những đêm không ngủ bên bản đồ quân sự. Trong khi đó, bác Nguyệt lại là một cô giáo, một nữ sinh đang phải cùng gia đình chạy giặc, sơ tán nay đây mai đó, cuộc sống vô cùng bấp bênh.
Vậy thì, sau đám cưới giản dị như chuyện cổ tích ấy, cuộc sống gia đình của hai người sẽ ra sao? Làm thế nào để một người phụ nữ Hà Thành đài các, vốn quen sống trong sự bao bọc của gia đình, có thể chống chọi, vượt qua được những khó khăn, vất vả, những thiếu thốn và hiểm nguy của thời chiến khi người chồng luôn ở ngoài mặt trận?
Nghĩ vậy, tôi nhìn Thủ trưởng Thảo, khẽ gật đầu trầm ngâm, rồi quay sang nhìn bác Nguyệt, cất tiếng hỏi tiếp, giọng đầy sự kính phục, sẻ chia và một chút xót xa:
- Em vô cùng cảm phục hai bác. Nhưng em cứ suy nghĩ mãi, trong hoàn cảnh kháng chiến biết bao khó khăn, gian khổ và vất vả như thế, thì ngay sau khi đám cưới kết thúc, cuộc sống sinh hoạt của gia đình hai bác đã diễn ra như thế nào a? Hai bác làm sao để duy trì được tổ ấm, giữ lửa cho tình yêu giữa bộn bề khói lửa chiến tranh?
Nghe tôi hỏi câu này, Thủ trưởng Thảo không trả lời ngay. Ông khẽ quay đầu, ánh mắt hướng qua khung cửa sổ phòng khách, nhìn vào khoảng không vô định ngoài kia, nơi những tán cây xanh đang lao xao trong gió hè. Gương mặt vị tướng già bỗng trở nên trầm tư lạ kỳ. Đôi mắt ông đượm một nỗi xúc động sâu xa, như đang tái hiện lại cả một cuốn phim ký ức đầy gian khổ nhưng kiêu hùng của một thời oanh liệt.
Trong lúc đó, bác Nguyệt nhìn tôi, hai mắt bác rưng rưng vẻ niềm tự hào kiêu hãnh của một thời thanh xuân hy sinh tất cả cho tình yêu và cho độc lập, tự do của đất nước. Bác Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt xúc động:
- Anh Biểu ạ. Nhắc lại chuyện ngày ấy, tôi vẫn không sao quên được, nó như mới diễn ra ngày hôm qua vậy. Vì hoàn cảnh tản cư thiếu thốn đủ đường, nên sau khi lễ cưới đơn sơ kết thúc, vợ chồng chúng tôi thậm chí không có lấy một căn phòng cưới tử tế, phải mượn tạm một gian nhà bỏ hoang ở cuối làng. Anh em dọn dẹp qua loa, rồi kê một chiếc giường tre ọp ẹp mượn của dân để làm phòng "tân hôn" cho vị Tư lệnh và cô dâu mới. Thế nhưng, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Ngay sáng ngày hôm sau, khi tiếng gà vừa gáy, anh Thảo đã phải lên đường nhận nhiệm vụ mới. Anh ấy vội vàng khoác chiếc ba lô bạc màu lên vai rồi khẩn trương về đơn vị để trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Thế rồi, cuộc chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt, khói lửa ngập trời. Vì nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc, vì xương máu của đồng bào, vợ chồng chúng tôi phải chấp nhận cảnh xa nhau biền biệt. Có khi vài tháng, có khi cả năm trời không có một dòng tin tức, không một lá thư tay. Một mình tôi ở lại hậu phương tản cư, vừa tham gia dạy học cho trẻ em vùng sơ tán, vừa tăng gia sản xuất, vừa mòn mỏi, đau đáu ngóng trông một dòng tin tức của chồng...
Nghe bác Nguyệt tâm sự, tôi lặng người đi, lồng ngực thắt lại vì xúc động. Ôi, cái giá của độc lập, tự do, cái giá của hòa bình, của cuộc sống thanh bình ngày hôm nay, được đánh đổi bằng biết bao sự hy sinh thầm lặng, bằng cả tuổi xuân xanh, bằng nước mắt và sự cô đơn, vất vả của những người phụ nữ ở hậu phương như bác Nguyệt!
Người ta thường ca ngợi vinh quang, ca ngợi những chiến công hiển hách của những vị tướng nơi tiền tuyến, hoàn toàn đúng. Nhưng mấy ai thấu hiểu được nỗi lòng, sự kiên cường, sức chịu đựng phi thường và lòng thủy chung son sắt của những người phụ nữ ở hậu phương. Họ chính là nguồn sức mạnh tinh thần vô bờ bến, là hậu phương vững chắc để những người lính vững tay súng ngoài chiến trường, yên tâm hoàn thành nhiệm vụ với non sông.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo ngồi đó, lắng nghe lời tâm sự của người bạn đời, ánh mắt ông ngập tràn niềm trắc ẩn sâu xa. Suốt cả cuộc đời binh nghiệp lừng lẫy, đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, điều binh khiển tướng khắp các mặt trận, ông luôn mang theo niềm tri ân sâu sắc đối với người vợ đã thay ông quán xuyến gia đình, làm chỗ dựa tinh thần kiên trung nhất. Tình cảm trọn nghĩa vẹn tình ấy của vị chỉ huy mưu lược lẫy lừng không chỉ thể hiện trên những quyết sách quân sự hào hùng, mà lắng đọng thành sự chở che, thấu hiểu khôn cùng dành cho người tri kỷ.
Thấy không khí căn phòng có phần trùng xuống, Thủ trưởng Thảo nhẹ nhàng đẩy chén nước trà Thái vẫn còn vương chút khói ấm về phía tôi, với ánh mắt trìu mến, bao dung. Ông chủ động phá tan sự tĩnh lặng, thay đổi cách xưng hô đầy thân tình, ấm áp:
- Thôi, chuyện cũ qua cả rồi, cậu Biểu ạ. Gian khổ thời ấy ai cũng thế cả thôi. Giờ đây đất nước đã hòa bình, độc lập, gia đình lại được sum vầy, con cháu trưởng thành thế này là hạnh phúc lớn lao, là ân huệ của cuộc đời lắm rồi cậu ạ.
Tôi nhìn Thủ trưởng Thảo, lòng dâng lên một cảm giác ấm áp, thân thương và kính trọng khó tả. Tôi ngước lên nhìn đồng hồ treo tường. Lúc này trời đã quá trưa, kim đồng hồ đã chỉ sang con số mười hai giờ ba mươi phút. Tôi xin phép hai bác ra về, dù trong lòng vẫn còn luyến tiếc khôn nguôi, muốn được ngồi mãi nơi đây để nghe hai bác tâm sự nhiều hơn nữa về một thời hoa lửa. Tôi nhìn bác Nguyệt rồi quay sang nhìn Thủ trưởng Thảo với ánh mắt đầy kính trọng, chân thành và xúc động:
- Báo cáo hai bác. Hôm nay em được đến thăm hai bác, được ngồi nghe hai bác kể lại câu chuyện tình yêu, chuyện đám cưới và những gian khổ thời chiến, thực sự là một điều vô cùng tuyệt vời, vô cùng ý nghĩa đối với một người lính cấp dưới như em. Em cảm thấy mình như được tiếp thêm sức mạnh tinh thần, được học lại một bài học lớn về tình người, tình vợ chồng và lòng yêu nước. Em xin chân thành cảm ơn hai bác rất nhiều. Em chúc bác Nguyệt chóng khỏe mạnh, cắt hẳn cơn sốt. Em kính chúc hai bác cùng toàn thể gia đình luôn luôn mạnh khỏe, trường thọ, an khang và tràn ngập hạnh phúc viên mãn ạ. Bây giờ thời gian cũng đã muộn, em xin phép được tạm biệt hai bác để ra về ạ.
Thủ trưởng Thảo và bác Nguyệt cùng đứng dậy để tiễn tôi. Bác Nguyệt dù người còn mệt, bước đi còn hơi run nhưng vẫn cố nở một nụ cười hiền hậu, ấm áp như người mẹ, gật đầu chào tôi. Còn Thủ trưởng Thảo thì thân chinh bước theo sau, bước chân ông vẫn vững chãi như ngày nào trên chiến trường Tây Nguyên. Ông tiễn tôi ra tận cánh cổng gỗ cũ kỹ của số nhà 69 Phùng Chí Kiên:
- Chúc chú Biểu công tác tốt nhé. Cho chúng tôi gửi lời thăm cô Lan nhé.
Tôi nhìn Thủ trưởng gật đầu và dắt xe ra cổng. Giữa cái nắng trưa hè oi ả của Hà Nội, bóng dáng vị Thượng tướng già đứng uy nghiêm mà đôn hậu bên khóm hoa giấy hồng tím lung linh trong gió trở thành một biểu tượng bất diệt trong tâm khảm tôi. Một con người bước ra từ sa trường rực lửa khói bom cho đến đời thường bình dị, suốt đời gìn giữ trọn vẹn lý tưởng trung quân ái quốc, trọn nghĩa với non sông Tổ quốc và vẹn tình thủy chung với người bạn đời đầu ấp tay gối. Ngồi trên chiếc xe máy giữa trưa hè, cái nóng gay gắt phả thẳng vào mặt. Thế nhưng, kỳ lạ thay, trong lòng tôi lúc này không còn một cảm giác oi nồng, hay ngột ngạt nào nữa. Thay vào đó là một cảm giác bình yên, mát lành đến lạ kỳ và ngập tràn một niềm xúc động thiêng liêng, lòng ngập tràn niềm kiêu hãnh và xúc động sâu xa về một mối lương duyên đẹp như truyện cổ tích giữa nhân gian.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo màu trắng, giữa), Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (phải),phu nhân Đại tướng Đặng Bích Hà (phải), Võ Điện Biên, con Đại tướng (ngoài cùng phải), Dương Thanh Biểu (ngoài cùng trái). Anh Trần Định tháng 5/2005

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và phu nhân Vũ Thị Minh Nguyệt