VĂN THƠ

Sắt son đời lính trận - Chương I - Ngày đầu gặp tư lệnh mặt trận

Nhiều năm sau khi tiếng súng trên các ngả chiến trường ngưng hẳn, tôi thường ngồi một mình trong những chiều tĩnh lặng, ngắm nhìn những vết sẹo hằn sâu trên da thịt mình như những chứng t…

Dương Thanh Biểu
Dương Thanh Biểu

Xuất bản: 17/09/2026

SẮT SON ĐỜI LÍNH TRẬN

CHƯƠNG I

NGÀY ĐẦU GẶP TƯ LỆNH MẶT TRẬN

Nhiều năm sau khi tiếng súng trên các ngả chiến trường ngưng hẳn, tôi thường ngồi một mình trong những chiều tĩnh lặng, ngắm nhìn những vết sẹo hằn sâu trên da thịt mình như những chứng tích không bao giờ phai mờ của một thời hoa lửa. Khói lửa đạn bom nay đã lùi xa vào cõi bảng lảng của thời gian, nhưng hình bóng những người đồng đội từng kề vai sát cánh, cùng vượt qua ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết thì vẫn vẹn nguyên, rõ nét như vừa mới hôm qua. Tôi nhớ những gương mặt sạm đen khói súng, nhớ những đôi mắt sáng rực chí khí anh hùng giữa đêm Trường Sơn lạnh giá, và nhớ cả những người anh em đã mãi mãi nằm lại nơi rừng xanh, bờ suối, hóa thân vào đất mẹ bao la. Họ không chỉ đơn thuần là những đồng chí cùng chung chiến hào, mà đã thực sự trở thành một phần máu thịt, một chương đời thiêng liêng nhất mà tôi hằng nâng niu cho đến tận những hơi thở sau cùng.

Ký ức như một thước phim quay chậm, đưa tôi trở về với mùa hè rực lửa tháng 4 năm 1970 khốc liệt. Vào thời gian này, núi rừng Tây Nguyên đang rung chuyển dữ dội trước sức hủy diệt tàn bạo của bom đạn quân thù. Sau trận đánh vây lấn đầy máu và hoa lửa tại cứ điểm Đắc Xiêng, tôi bị thương nặng phải chuyển về Bệnh viện dã chiến 211 điều trị. Suốt những ngày dài rồi đến đêm thâu nằm điều trị tại bệnh viện, tai tôi vẫn ám ảnh bởi tiếng gầm rú của máy bay B-52, tiếng pháo bầy dồn dập và tiếng đạn đại liên rít lên như xé vải. Giữa không gian lặng im của tuyến sau, tâm trí tôi vẫn đau đáu hướng về trận địa mịt mù khói lửa, nơi những giọt máu của đồng đội đã vĩnh viễn thấm vào lòng đất đỏ bazan.

Đến tháng 7 năm đó, khi những vết thương trên cơ thể vừa mới khép miệng, lớp da non còn đỏ hớn và nhức buốt mỗi khi trái gió trở trời, tôi lập tức vác ba lô xin ra viện. Sức trẻ và lý tưởng cách mạng của tuổi hai mươi không cho phép tôi nằm yên một chỗ khi đồng đội còn đang đổ máu ngoài tiền tuyến. Ngay sau khi trở lại đơn vị, tôi được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm làm Trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 1, thuộc Trung đoàn 28 - một trong những đơn vị chủ lực, dạn dày sương gió của Mặt trận Tây Nguyên.

Nhận nhiệm vụ mới chưa kịp ấm chỗ, tôi đã cùng đoàn cán bộ tác chiến của Trung đoàn 28 lên đường thực hiện một nhiệm vụ tối mật: đi nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường tại cao nguyên Bô Lô Ven, thuộc tỉnh Attapeu trên đất bạn Nam Lào. Đó là một vùng đất hoang sơ, hiểm trở với những dãy núi đá tai mèo sắc nhọn và cái nắng như thiêu như đốt. Dưới sự dẫn đường tận tụy của các chiến sĩ bộ đội bạn, chúng tôi phải bám sát thực địa, luồn sâu vào từng cao điểm, thức trắng đêm trên các vách đá để đo đạc, vẽ sơ đồ, thu thập từng chi tiết nhỏ nhất về tình hình bố phòng của địch. Mỗi nét vẽ trên bản đồ tác chiến lúc ấy đều phải đổi bằng mồ hôi, thậm chí là máu, để sẵn sàng đón đại quân ta sang thực hiện trận đánh hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn của chiến dịch sắp tới.

Giữa lúc công tác trinh sát đang tiến hành khẩn trương và gay cấn nhất, tôi bất ngờ nhận được lệnh của Trung đoàn 28: Bàn giao lại công việc, lập tức quay trở về căn cứ hậu phương của Mặt trận Tây Nguyên để tham gia một đợt tập huấn đặc biệt. Câu lệnh ngắn gọn nhưng chứa đựng tính chất khẩn cấp khiến lồng ngực tôi đập liên hồi với cảm xúc của sự tò mò và lo lắng

Đó là một lớp tập huấn chuyên sâu, có quy mô lớn và bao gồm nhiều kỹ, chiến thuật của người lính trong chiến đấu. Bộ Tư lệnh Mặt trận đã triệu tập những cán bộ tác chiến từ các đơn vị bạn dạn dày sương gió trên khắp dải đại ngàn như Trung đoàn 28, Trung đoàn 40, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 95... Chúng tôi tập trung tại một thung lũng bằng phẳng, nằm lọt thỏm dưới những tán cây cổ thụ rậm rạp của rừng già Tây Nguyên nhằm che mắt hệ thống trinh sát đường không dày đặc của địch. Nội dung tập huấn xoay quanh những vấn đề sinh tử của chiến trường lúc bấy giờ: kỹ - chiến thuật đánh hầm ngầm, nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, phương pháp khắc phục hệ thống vật cản phức tạp trong quá trình đánh chiếm lô cốt đầu cầu của địch, chiến thuật đánh vận động và vây lấn…

Không khí rèn quân mang đậm chất lính chiến trường: khẩn trương, quyết liệt và thẳng thắn, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn….Sau thời gian học lý thuyết, các học viên thực hành ngay trên thao trường. Có những ngày mưa rừng tầm tã hay cái nắng hanh hao của vùng cao, các học viên vẫn say sưa tập luyện. Tuyệt đối không có lấy một phút giây chậm trễ hay lơ là, bởi lẽ, mỗi cán bộ tác chiến chúng tôi đều hiểu rõ trọng trách đè nặng trên vai mình với tinh thần càng huấn luận tốt thì càng bớt đỗ máu ngoài trận địa. Những kiến thức sinh tử này không phải để đi thi, mà để mang về huấn luyện lại cho các chiến sĩ tại đơn vị mình, chuẩn bị sẵn sàng cho những trận đánh lớn sắp rền vang trên khắp đại ngàn.

Nhìn những công sự được đào đắp kiên cố, vững chãi nối tiếp nhau trên thao trường, tôi bỗng thấy lòng mình thổn thức một niềm vui kỳ lạ, như được ngược thời gian trở về cái thuở tân binh sôi nổi, hào hứng năm nào. Vẫn là những buổi lăn lê bò toài trên đất đỏ, vẫn là những màn chia quân xanh - quân đỏ để đối mặt với nhau qua từng tình huống giả định khốc liệt. Các giáo viên đứng lớp đều là những sĩ quan dạn dày kinh nghiệm vừa bước ra từ mưa bom bão đạn, mái tóc đã vương mùi thuốc súng và sương đêm, nên từng bài giảng của các anh cứ thế ngấm vào huyết quản chúng tôi, thuyết phục đến lạ kỳ. Qua mỗi giờ học, cái nhìn của người lính về trận đánh vận động hay chiến thuật vây lấn không còn là những dòng lý thuyết suông khô khốc trên giấy tờ, mà hiển hiện cụ thể, sâu sắc vô cùng thông qua những mô hình trực quan và những kinh nghiệm thực tế xương máu.

Gần ba tháng ròng rã tập huấn nơi mặt trận là quãng thời gian chúng tôi được bồi đắp tư duy quân sự, được “vỡ” ra nhiều điều mà trước đây khi cầm súng chiến đấu ở cấp phân đội chúng tôi chưa từng nghĩ tới. Đem những trải nghiệm xương máu, những lần chết hụt ngoài trận mạc đối chiếu với bài giảng của các thầy, tôi mới thấm thía một sự thật tàn nhẫn nhưng đúng đắn: Trong cuộc chiến sinh tử này, ngoài ý chí gang thép và vũ khí trang bị, người lính bắt buộc phải thuần thục đến mức bản năng các kỹ, chiến thuật. Những buổi thảo luận dân chủ, những cuộc tranh luận nảy lửa của anh em học viên giữa giờ giải lao về cách xử lý các tình huống thực tế đã trở thành chất liệu sống động, thổi thêm hơi thở hừng hực của chiến trường vào từng trang giáo án.

Và rồi, sau hơn ba tháng miệt mài rèn luyện, ngày hái quả cũng đã đến. Hôm ấy, toàn bộ học viên tập trung tại hội trường để làm bài thu hoạch và tổ chức rút kinh nghiệm toàn khóa. Gọi là hội trường cho oai theo ngôn từ quân đội, chứ thực chất đó chỉ là một cái lán đơn sơ, mộc mạc được bộ đội ta đào âm xuống lòng đất chừng một mét nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại nếu chẳng may bị phi pháo địch oanh kích. Bên trên lán được lợp kín bằng những lớp lá cọ dày dặn để che mưa che nắng và được ngụy trang kỹ càng.

Chiều hôm trước, cánh lính trẻ chúng tôi đã rỉ tai nhau một nguồn tin mật: Sáng mai sẽ có Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Mặt trận trực tiếp đến thăm và nói chuyện. Những cái đầu lính trẻ măng ngày ấy làm sao biết hết được tầm vóc của các bậc lãnh đạo Mặt trận như thế nào. Riêng tôi, được gặp Thủ trưởng Mặt trận là cơ duyên hiếm có. Nghĩ đến đây, chợt lồng ngực tôi cứ đập rộn ràng, thổn thức một niềm kiêu hãnh, tự hào và hồi hộp chờ mong.

Sáng hôm đó, trời Tây Nguyên đẹp đến ngỡ ngàng, như muốn bù đắp lại những ngày mưa rừng ảm đạm. Những tia nắng sớm tinh khôi xuyên qua rặng cây cổ thụ già nua, đổ xuống mặt đất thành những vệt sáng dài lấp lánh như những chiếc quạt nan khổng lồ của tạo hóa, dệt nên một thảm hoa nắng lung linh, huyền ảo trên nền đất đỏ. Cánh lính dạn dày trận mạc chúng tôi đang ngồi túm năm tụm ba, trò chuyện râm ran về quê nhà, về những trận đánh vừa. Có người vui quá, tếu lên kể chuyện tạm biệt người yêu thủa học trò khi lên đường nhập ngũ mà không giám cầm tay…Chợt có tiếng hô dõng dạc, uy nghiêm của đồng chí chỉ huy lớp học vang lên:

Tất cả chú ý… nghiêm!

Như một phản xạ tự nhiên của đời lính, cả hội trường đồng loạt đứng phắt dậy. Tiếng dép cao su va chạm vào nhau, tiếng ghế băng được làm bằng tre, nứa nghe sột soạt. Nhanh và đều như máy, hàng trăm con người giơ tay chào kiểu nhà binh răm rắp, động tác dứt khoát, mạnh mẽ, tạo nên một luồng khí thế bừng bừng. Từ phía cửa lán, một bóng người, đứng tuổi, vững chãi bước vào. Người thủ trưởng gật đầu, nở một nụ cười trìu mến đón nhận tình cảm của chúng tôi. Ông mặc bộ quân phục mùa hè, giản dị, nhẹ nhàng đưa tay ra hiệu. Cả hội trường đồng loạt ngồi xuống. Chợt tiếng lào xào, ấm áp do những đôi dép cao su đúc xê dịch trên nền đất tiếp tục phát ra.

Đến khi đồng chí chỉ huy lớp học bước lên bục, dõng dạc giới thiệu tên tuổi, chức vụ của vị khách quý, toàn thể học viên chúng tôi mới vỡ òa, ngỡ ngàng, xúc động đến lặng người. Người đang đứng trước mặt chúng tôi bằng xương bằng thịt chính là tướng Hoàng Minh Thảo - vị Tư lệnh huyền thoại, linh hồn của Mặt trận Tây Nguyên (sau này ông được phong quân hàm Thượng tướng và Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân).

Tôi đã được nghe những người lính đi trước kháo nhau về ông từ lâu với một sự ngưỡng mộ vô cùng, nhưng đây là lần đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp, tôi mới được tận mắt chiêm ngưỡng dung mạo của vị tướng tài ba ấy. Ông sở hữu một vầng trán rộng, cao và mênh mông như chứa đựng cả sa bàn chiến lược của toàn bộ chiến trường Tây Nguyên. Đôi mắt ông sáng quắc, tinh anh dưới cặp lông mày dài và rậm rạp, toát lên vẻ uy nghiêm, trang trọng và tầm vóc lớn lao của một nhà cầm quân lỗi lạc. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với vẻ nghiêm nghị, thâm trầm của một vị tướng, ở ông luôn thường trực một nụ cười hiền từ, nhân hậu, bao dung vô cùng.

Khi ông đứng trên bục gỗ nói chuyện, ánh mắt ông bao quát khắp hội trường, hướng về phía chúng tôi không phải là cái nhìn bề trên của một vị tướng nhìn quân sĩ dưới quyền, mà là ánh mắt ngập tràn tình yêu thương của một người anh, một người cha đang nhìn những đứa em, đứa con yêu dấu trong đại gia đình đồng đội.

Cả hội trường rộng lớn bỗng chốc lặng đi, không một tiếng động nhỏ, thậm chí có thể nghe thấy cả tiếng lá cọ khô xào xạc trên mái lán. Chúng tôi như bị cuốn hút hoàn toàn vào phong thái của ông, ai nấy đều cố gắng nuốt lấy từng lời, từng chữ. Khi nói về tình hình thời sự trong nước và quốc tế, ông điểm lại những chiến thắng vang dội của quân và dân miền Nam nói chung, của chiến trường gắn liền với dải đại ngàn Tây Nguyên nói riêng. Mỗi lần nhắc đến một tin thắng trận của đơn vị nào đó, nét mặt vị Tư lệnh lại bừng sáng tươi rói, ánh mắt lấp lánh niềm vui, như truyền đi một luồng điện, thắp sáng lòng tin và ý chí chiến đấu trong lồng ngực những người lính trẻ.

Bằng chất giọng mạch lạc, khúc chiết, trầm ấm nhưng vô cùng dứt khoát của một nhà quân sự, nhà khoa học, ông phân tích sâu sắc về cục diện chiến lược và thời cơ cách mạng đang đến gần. Vị Tư lệnh chỉ rõ từng thuận lợi cốt lõi cũng như những khó khăn, thử thách cực kỳ gay gắt của chiến trường Tây Nguyên trong cuộc chiến cam go nhằm đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Với cơ sở lý luận chính trị sắc sảo, tư duy chiến lược tầm vóc quốc tế kết hợp với thực tiễn trận mạc phong phú, ông thuyết phục hoàn toàn tâm trí chúng tôi bằng niềm tin tất thắng: Quân và dân ta sẽ chiến thắng quân thù, miền Nam sẽ hoàn toàn được giải phóng, đất nước sẽ thông nhất một dải, nhân dân ta sẽ có độc lập, tự do… Không một lời hô hào khẩu hiệu suông, không có chỗ cho sự lạc quan tếu hay chủ quan khinh địch.

Ngồi nghe ông nói, lòng tôi dâng lên một niềm kính phục, tự hào và biết ơn vô hạn đối với người Thủ trưởng, chỉ huy của mình: một bộ óc vĩ đại, một trí tuệ uyên bác tầm chiến lược nhưng lại vô cùng sâu sát, thấu hiểu đến tận cùng tâm tư, nguyện vọng và chăm lo sát sao đến từng bữa ăn, giấc ngủ, từng vết thương của người lính Tây Nguyên.

Hàng trăm ánh mắt rực lửa đổ dồn về phía bục gỗ. Tôi nhận thức rằng, mình đang được tiếp thu những bài học vô giá, những kinh nghiệm tuyệt vời để chuẩn bị cho những trận đánh sinh tử sắp tới. Vì vậy, tôi lúi húi ghi chép vào cuốn sổ tay tác chiến nhỏ xíu của mình một cách cẩn thận, chu đáo nhất có thể, sợ bỏ sót bất kỳ một ý niệm nào của ông. Hy vọng những quan điểm, luận cứ của Thủ trưởng sẽ nhập tâm, lúc nào có điều kiện sẽ nói lại với những đồng đội chưa được nghe.

Ngồi nghe Thủ trưởng nói chuyện tôi càng thấm thía về quan điểm khoa học cả về chính trị và quân sự…Đó là sự mưu trí, dũng cảm và tư duy chiến thuật. Theo Thủ trưởng Mặt trận, quân địch càng có nhiều vũ khí hiện đại, ta càng phải dùng mưu mẹo, tập trung lực lượng, bí mật để đánh phủ đầu nơi địch sở hở nhất. Từ việc đánh phủ đầu làm cho quân địch bất ngờ, thất bại, kéo theo sự sụp đổ dây chuyền. Đó chính là cốt lõi trong nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam. Và trên hết, nếu không có sức mạnh của khối đại đoàn kết tập thể, không có những bộ óc chỉ huy thiên tài, uyên bác dẫn đường chỉ lối, thì đội quân dù có đông đảo đến mấy cũng sẽ chuốc lấy bại vong trước hỏa lực tối tân của kẻ thù.

Tôi đặc biệt bị ấn tượng và cuốn hút khi nghe vị Tư lệnh giảng giải về mưu lược dùng binh. Ông khéo léo đưa ra những học thuyết dùng binh kinh điển từ thời Tôn Tử xa xưa, rồi liên hệ một cách sinh động, tài tình vào thực tế của cách mạng Việt Nam. Giọng ông bỗng trầm xuống, chứa đựng những suy tư sâu kín khi kể lại câu chuyện lịch sử ở chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954. Ngày ấy, trong bộ chỉ huy tối cao đã có những ý kiến đề xuất phương châm "Đánh nhanh, giải quyết nhanh" nhằm chớp thời cơ. Nhưng trước một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố, được trang bị hỏa lực đến tận răng như Điện Biên Phủ, liệu lực lượng non trẻ của ta lúc bấy giờ có chịu nổi trước hỏa lực mạnh của địch và được bố trí trong trận địa kiên cố? Sau khi cân nhắc một cách thận trọng, khoa học, căn cứ vào thực tiễn so sánh lực lượng giữa ta và địch, Trung ương Đảng và Bác Hồ, trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển sang phương châm "Đánh chắc, tiến chắc". Và lịch sử đã chứng minh hùng hồn rằng, cái "chắc" đầy bản lĩnh ấy đã làm nên một chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật và mưu lược dùng binh Việt Nam.

Rồi ông nhấn mạnh, người cầm quân giỏi, một người chỉ huy tài cần phải hội tụ đủ ba tố chất cốt lõi: Một là mưu kế, hai là quyết đoán, ba là chọn đúng đối tượng tác chiến. Ông khẽ mỉm cười, đưa ra một sự so sánh đầy tự hào tự tôn dân tộc: lịch sử Việt Nam từ trước đến nay đã chứng minh rằng, quân đội ta, nhân dân ta luôn hơn hẳn quân địch một cái đầu về mưu kế và nghệ thuật ngụy trang. Đó chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến quân đội ta là một đội quân bách chiến bách thắng!

Dưới lán cọ âm u nhưng rực sáng lý tưởng, cánh lính trẻ chúng tôi cứ há hốc mồm ra nghe, nuốt lấy từng lời vàng ngọc của ông như những mảnh đất khô cằn đón nhận những giọt mưa mùa hạ mát lành.

Đến giờ giải lao, một điều bất ngờ và vô cùng xúc động đã xảy ra khiến toàn bộ hội trường xôn xao. Thay vì di chuyển về phòng khách dành cho các vị khách của Mặt trận, Tư lệnh Hoàng Minh Thảo lại thong thả, ung dung bước xuống phía dưới hội trường. Ông đi đến từng dãy ghế thô sơ, chủ động bắt tay và ân cần thăm hỏi sức khỏe, tình hình gia đình của từng anh em chiến sĩ. Chỉ riêng một cử chỉ giản dị, đầy tính nhân văn ấy thôi đã lập tức xóa nhòa mọi khoảng cách vô hình giữa một vị tướng lẫy lừng của Mặt trận và những người quân sĩ bình thường, tạo nên một bầu không khí vô cùng cởi mở, ấm áp và thiêng liêng như tình cha con, anh em trong đại gia đình đồng đội.

Và rồi, tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, toàn thân run lên bần bật khi bước chân vững chãi của vị Tư lệnh dừng lại ngay trước mặt tôi. Ông đưa tay ra, lòng bàn tay to rộng và ấm áp. Tôi đứng phắt dậy theo bản năng, run run vội vã đưa cả hai tay mình nắm chặt lấy bàn tay của Thủ trưởng Thảo, đôi mắt tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt ông không chớp, lòng trào dâng một niềm xúc động nghẹn ngào. Tư lệnh nhìn tôi bằng ánh mắt hiền từ, ông vỗ nhẹ lên vai tôi đầy thân mật, giọng ông trầm ấm, vang lên bên tai:

- Đồng chí tên gì nhỉ? Thuộc đơn vị nào?

Tôi cố gắng điều chỉnh hơi thở, đứng vào tư thế nghiêm chỉnh, chuẩn mực nhất của một quân nhân cách mạng trước Thủ trưởng, dõng dạc báo cáo:

- Báo cáo Thủ trưởng… Tư lệnh! Tôi tên là Dương Thanh Biểu, Trợ lý tác chiến của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28 ạ!

Nghe tôi báo cáo xong, có tiếng cười rả rích. Có lẽ do tôi trả lời có chút ngập ngừng, vụng về cách xưng hô. Nhưng chợt thấy ông mỉm cười, tôi cảm thấy yên tâm. Tôi nhìn đôi lông mày của Tư lệnh Hoàng Minh Thảo hơi nhướn lên một chút. Ông gật đầu nhẹ nhàng, ánh mắt thoáng hiện một nét đăm chiêu, suy nghĩ như đang lật lại những trang sa bàn trong ký ức:

- Tiểu đoàn 1 của đồng chí vừa rồi tham gia đánh vây lấn ở cứ điểm Đắc Xiêng đúng không? Đây là phương pháp chiến thuật vây lấn đầu tiên được bộ đội ta vận dụng trên chiến trường Tây Nguyên đấy!

E:\giai tri\ẢNH KỶ NIEMJ VỚI BÁC GIÁP, Bác Trọng và ĐỒNG ĐỘI\Untitled-2.jpg

Tháp tùng GS. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại 30 Hoàng Diệu Hà Nội nhân dịp ngày chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5/2001. Ảnh Trần Định

Nói rồi, ông quay sang nhìn một lượt anh em học viên xung quanh đang chăm chú lắng nghe, rồi cất tiếng hỏi tiếp:

- Trong lớp tập huấn của chúng ta, ngoài đồng chí Biểu ra, còn có đồng chí nào trực tiếp tham gia trận Đắc Xiêng nữa không?

Không gian trong lớp học bỗng chốc im ắng lạ thường. Tôi đứng đó, lòng dạ ngổn ngang, cũng không hiểu vì sao vị Tư lệnh Mặt trận trăm công ngàn việc lớn lao lại đặc biệt quan tâm và nhớ rõ đến trận đánh của một đơn vị nhỏ nhoi như vậy. Trong lúc tôi còn đang lúng túng, ngượng ngùng chưa biết phải nói gì tiếp theo, Tư lệnh đã quay lại nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt ông ngập tràn sự khích lệ và tin tưởng:

- Này anh bạn trẻ, đẹp trai. Từ thực tiễn trận đánh Đắc Xiêng vừa qua và qua đợt tập huấn lần này, đồng chí tự rút ra nhận xét thế nào cho bản thân? Câu hỏi này tôi cũng muốn dành cho tất cả các bạn trẻ khác đang ngồi ở đây.

Lại là một câu hỏi mang tính chất thực tiễn quá lớn, khiến một trợ lý tác chiến trẻ tuổi như tôi cảm thấy bất ngờ, trở tay không kịp. Tôi quay sang nhìn ngó xung quanh, thầm mong có một đồng đội nào đó dày dạn kinh nghiệm hơn đứng lên trả lời hộ mình trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc này. Nhưng đáp lại, mọi ánh mắt kính trọng và tò mò của anh em đều đang đổ dồn về phía Thủ trưởng và tôi. Nhìn sâu vào ánh mắt ấm áp, bao dung như biển hồ của Thủ trưởng, tôi hít một hơi thật sâu để nén lại sự hồi hộp, lấy lại sự bình tĩnh của một người lính chiến. Tôi mạnh dạn, rành rọt trả lời:

- Báo cáo đồng chí Tư lệnh! Tôi thấy đợt tập huấn này vô cùng bổ ích và thiết thực đối với cánh lính tác chiến như chúng em ạ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận quân sự và thực tiễn chiến trường trong các bài giảng rất hợp lý, giúp chúng em mở mang tầm mắt. Tuy nhiên, từ thực tế xương máu tại chiến trường mà cụ thể là trận đánh Đắc Xiêng vừa qua, có nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn để tránh thương vong cho người lính à. Điều này đòi hỏi người lính không chỉ cần gan dạ, thông minh mà bắt buộc phải có một bản lĩnh thép để xử lý tình huống. Và đặc biệt... công tác trinh sát, chuẩn bị chiến trường phải được coi trọng, thực hiện tỉ mỉ hơn nữa ạ!

Thấy tôi trả lời có phần lúng túng do quá xúc động, từ ngữ đôi chỗ còn chưa thật gãy gọn, chưa đi thẳng vào bản chất kỹ thuật của câu hỏi. Trong lúc đó, vị Tư lệnh Mặt trận không hề tỏ ra trách móc hay khó chịu. Ông nở một nụ cười hiền hậu, gật đầu ra hiệu cho tôi thoải mái hơn:

- Anh bạn trẻ có thể nói cụ thể hơn, thẳng thắn hơn được không? Giữa chúng ta ở đây không có khoảng cách gì cả, cứ mạnh dạn trao đổi dân chủ quân sự mà. Có vấn đề gì chưa phù hợp với bài giảng thì đồng chí cứ mạnh dạn phát biểu, đề xuất. Đây là cơ sở để bổ sung cho bài giảng thêm sinh động, nhất là gắn liền với thực tế chiến trường và phục vụ cuộc chiến tại trận địa!

Sự hòa đồng, giản dị và lòng bao dung của vị Tư lệnh Mặt trận như nguồn năng lượng, sưởi ấm tâm hồn tôi, xua tan đi mọi nỗi rụt rè, e ngại của một người lính trẻ trước cấp trên. Tôi quyết định sẽ nói hết những trăn trở, băn khoăn và cả những nỗi đau đớn bấy lâu nay về trận Đắc Xiêng - những điều mà tôi và những người đồng đội còn sống sót, mỗi khi gặp nhau lại đưa câu chuyện trận Đắc Xiêng ra bàn thảo, sẻ chia. Hy vọng mình nói thật sẽ góp phần cho các lớp tập huấn sắp tới thêm sinh động và quan trọng hơn sẽ được Tư lệnh thấu hiểu tầm quan trọng của công tác chuẩn bị chiến trường cũng như sự sâu sát, tỷ mỷ của cấp chỉ huy trận đánh. Tôi nhìn thẳng vào vị Tư lệnh kính yêu, giọng nói có chút run lên vì xúc động nhưng từng lời phát ra đều rõ ràng, cụ thể:

- Báo cáo đồng chí Tư lệnh! Trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch đánh vây lấn ở cứ điểm Đắc Xiêng, cấp trên có tổ chức một buổi thảo luận cách đánh rất kỹ lưỡng trên sa bàn. Lúc ấy, cánh lính cấp phân đội chúng em có chất vấn một chi tiết quan trọng: Theo sơ đồ trinh sát, Đắc Xiêng là một cứ điểm kiên cố được quân địch xây dựng trên một quả đồi hoàn toàn trống trải. Xung quanh cứ điểm không còn lấy một ngọn cỏ do bom đạn và chất độc hóa học của địch đốt cháy rụi. Vậy thì hệ thống công sự, trận địa vây lấn của bộ đội ta nên ngụy trang như thế nào để bảo đảm an toàn trước hỏa lực oanh kích tàn khốc của máy bay địch? Lúc đó, đồng chí cán bộ cấp trên giải thích rằng: Phải công nhận địa hình Đắc Xiêng trống trải thật sự. Nhưng chúng ta đã có giải pháp. Đó là, khi ta nổ súng, nếu máy bay địch đến bắn phá thì đã có lực lượng pháo phòng không của Mặt trận và của Trung đoàn 28 bố trí xung quanh trận địa, nổ súng khống chế máy bay địch, bảo vệ đội hình bộ đội ta. Các đồng chí cứ yên tâm chiến đấu.

Nói đến đây, tôi ngước nhìn và thấy đôi lông mày rậm của Thủ trưởng Thảo hơi nhíu lại, nét mặt ông thoáng hiện vẻ đăm chiêu, chăm chú lắng nghe. Tôi thầm nghĩ, Thủ trưởng rất băn khoăn với trận Đắc Xiêng này. Tôi nuốt nước bọt, lấy lại sự can đảm để tiếp tục:

- Xin báo cáo thật với Thủ trưởng, thực tế trận đánh Đắc Xiêng đã không diễn ra như những gì chúng ta tính toán trên sa bàn. Ngay từ khi tiếng súng mở màn chiến dịch vang lên, máy bay địch từng đàn, đủ loại từ Kon Tum bay đến làm chủ hoàn toàn bầu trời Đắc Xiêng. Lực lượng phòng không của ta bị hạn chế, không thể khống chế được từng đàn máy bay với nhiều tầng và nhiều loại. Ngay từ khi nổ sung, máy bay địch dễ dàng phát hiện ra các đường hào, trận địa vây lấn của ta giữa vùng đồi trọc và điên cuồng dội bom và bắn phá dữ dội. Trong đó có cả bom na ban trùm lên trận địa làm hai người lính của tôi chưa kịp bóp cò đã bị hy sinh – Nói đến đây, tôi thấy thương nhớ các chiến sĩ của mình đã hy sinh, hai mắt tôi rơm rớm. Cổ họng tôi nghèn nghẹn. Dừng một chút, lấy lại bình tĩnh, tôi tiếp tục – Đồng thời cùng lúc đó, pháo binh địch từ Đắc Tô – Tân Cảnh dồn dập bắn cấp tập vào trận địa. Vì xung quanh không có cành cây, ngọn cỏ nào để ngụy trang, nến phi pháo địch cứ dồn dập bắn phá công sự. Trước tình huống sinh tử này, bộ đội ta phải bò ra xung quanh, dùng tay để hốt từng vốc tro đen, than cháy từ những bụi cây bị bom thiêu rụi quanh đó đưa về rải lên nắp hầm công sự, làm ngụy trang, hy vọng che mắt phi công địch một cách tuyệt vọng...

Tôi dừng lại một chút, cố kìm nén một tiếng nấc nghẹn ngào khi ký ức về những đồng đội bị bom đánh trúng hầm ùa về, nhìn thẳng vào Thủ trưởng, giọng tôi chùng xuống:

- Thứ hai là khi đánh sa bàn, cấp trên phổ biến thông tin trinh sát rằng Đắc Xiêng chỉ có 6 hàng rào kẽm gai các loại. Phá xong 6 hàng rào là chiếm ngay được lô cốt đầu cầu. Nhưng thực tế, khi bộ đội ta dũng cảm ôm bộc phá xông lên, cho nổ tung toàn bộ 6 hàng rào để mở hướng tấn công vào lô cốt đầu cầu. Nhưng khi các chiến sĩ mũi nhọn xung phong chiếm lô cốt đầu cầu thì bất ngờ vấp phải một con hào chông sâu hoắm và hai hàng rào vướng chân nguy hiểm nữa nằm khuất phía sau mà trinh sát không hề phát hiện ra. Trong lúc đó súng đại liên đich từ lô cốt đầu cầu bắn ra xối xả như vãi đạn vào bộ đội. Mũi đi đầu của bộ đội ta bị chặn đứng hoàn toàn ngay trước cửa mở do thương vong quá nhiều. Lúc này địch tăng cường tập kích bằng cối, phóng lựu vào đội hình bộ đội. Bộ đội ta càng xung phong lên theo mệnh lệnh càng bị thương vong nhiều, máu nhuộm đỏ cả cửa mở mà không thể nào tiếp cận được lô cốt đầu cầu... Tôi là người may mắn chỉ bị thương nặng trong trận này trước cửa mở nhưng được đồng đội kéo ra. Nếu không được đồng đội cứu thì hôm nay không được vinh dự đứng đây để báo cáo Tư lệnh. Tôi xin phép nêu ra ví dụ xương máu này để thấy rằng, công tác trinh sát và chuẩn bị chiến trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thậm chí mang tính quyết định việc thắng bại. Có thể nói, trong trận Đắc Xiêng vừa qua, chúng ta vẫn còn bộc lộ sự chủ quan, không sâu sát thực địa nên gây tổn thất lớn cho bộ đội ta…

Nghe tôi trút hết bầu tâm sự gan ruột, trút hết những cay đắng và sự thật trần trụi của chiến trường, nụ cười hiền hậu trên môi Tư lệnh Hoàng Minh Thảo bỗng tắt hẳn. Ông đứng lặng đi giữa hội trường, nét mặt thoáng chút trầm tư. Đôi lông mày rậm nhíu chặt lại, thể hiện một sự dằn vặt khôn nguôi của người Tư lệnh Mặt trận trước xương máu của đồng đội mình. Chợt tim tôi thắt lại. Hay mình quá thật thà, nói đúng sự thật làm Thủ trưởng quá xúc động trước sự hy sinh, mất mát của bộ đội. Nhưng sau đó, ông gật đầu nhẹ nhàng, nhìn tôi bằng một ánh mắt vừa nghiêm khắc đối với khoa học quân sự, nhưng lại vừa ngập tràn sự bao dung, thấu hiểu trước cảnh hy sinh mất mát quá lớn của bộ đội:

- Tôi hoan nghênh đồng chí nói rất mạnh dạn, thẳng thắn và chính xác! Trận đánh cứ điểm Đắc Xiêng đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng đắt giá, phải đổi bằng xương máu của biết bao nhiêu chiến sĩ. Đây là trận đánh vây lấn đầu tiên trên Tây Nguyên. Do đó còn nhiều khuyết điểm nên cần nghiên cứu sâu sắc chiến thuật vây lấn, kỹ thuật khắc phục hệ thống vật cản phức tạp, nghệ thuật đánh chiếm đầu cầu và nhất là công tác trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Đồng chí đã nói rất đúng về căn bệnh chủ quan, thiếu sâu sát của một bộ phận trinh sát, chỉ huy. Hiện tại, Bộ Tư lệnh Mặt trận đang chỉ đạo các phòng ban tổ chức tổng kết sâu sắc, nghiêm túc chiến dịch Đắc Xiêng để rút ra những bài học kinh nghiệm xương máu. Tôi hứa với các đồng chí, Bộ Tư lệnh sẽ khắc phục triệt để những thiếu sót này, bảo đảm cho các chiến dịch quy mô lớn sắp tới phải giành thắng lợi toàn diện!

Lời khẳng định đanh thép, đầy trách nhiệm và tình yêu thương của vị Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên như một luồng gió mát lành, lập tức cởi bỏ một nút thắt tâm lý đè nặng trong lòng tôi cũng như toàn thể anh em chiến sĩ tham gia trận Đắc Xiêng ngày ấy. Chúng tôi nhìn ông, lòng thầm kính phục và biết ơn vô hạn một nhân cách lớn, một vị tướng dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận trách nhiệm và luôn coi mạng sống của người lính là vốn quý nhất của người chỉ huy.

Sau buổi nói chuyện định mệnh và đầy xúc động ngày hôm ấy, lớp tập huấn của Mặt trận cũng chính thức bế mạc. Anh em chúng tôi nắm chặt tay nhau, nghẹn ngào tạm biệt để tỏa về các đơn vị trên khắp chiến trường Tây Nguyên, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của người lính chiến. Nhiều năm tháng trôi qua, biết bao trận đánh khốc liệt khác, mỗi khi có dịp ngồi lại với bạn bè đồng đội bên bếp lửa rừng hay giữa thời bình, tôi lại hào hứng, trân trọng đem câu chuyện về cuộc gặp gỡ với vị Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ra kể cho anh em nghe với một niềm khâm phục và tự hào khôn tả.

Ngày ấy, tôi chỉ là một người lính trẻ, một trợ lý tác chiến cấp phân đội may mắn được gặp và trực tiếp trò chuyện cùng vị tướng đáng kính - một cơ hội hiếm hoi, độc nhất vô nhị mà tôi tự biết có lẽ cả cuộc đời mình chẳng bao giờ dám hy vọng có lần thứ hai. Thế nhưng, dù thời gian có nghiệt ngã phủ bụi lên vạn vật, dù tóc tôi nay đã bạc phơ và trí nhớ đã có phần giảm sút, thì hình ảnh về giọng nói trầm ấm, nụ cười hiền từ và ánh mắt bao dung, uyên bác của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo vẫn vẹn nguyên, sống động trong tâm trí tôi như mới ngày hôm qua. Nó đã in sâu vào tâm khảm, trở thành một điểm tựa tinh thần thiêng liêng, một ngọn hải đăng lý tưởng theo suốt cuộc đời cầm súng và dặm dài hành trình gian khổ của một người lính chiến Tây Nguyên sắt son, chung thủy./.

Từ khóa
#Sắt son đời lính trận - Chương I - Ngày đầu gặp tư lệnh mặt trận
Dương Thanh Biểu

Dương Thanh Biểu

Tác giả
• CÙNG CHUYÊN ĐỀ

Tác Phẩm & Bài Viết Liên Quan

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế Truyện ký
17.09.2026 • 10 lượt xem

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế

Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm...

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng Tiểu thuyết
17.09.2026 • 8 lượt xem

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng

NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI... (Ấn tượng đọc “Hoa dành ngày gặp mặt”, tiểu thuyết của nhà văn Dương Thanh...

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Truyện ký
17.09.2026 • 9 lượt xem

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH

MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức...

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời Truyện ký
17.09.2026 • 8 lượt xem

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời

Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm...

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước Văn xuôi
17.09.2026 • 10 lượt xem

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước

CUỘC GẶP KHÔNG HẸN TRƯỚCHà Nội những ngày đầu đông luôn mang một vẻ đẹp cổ kính và kiêu hãnh đến...