VĂN THƠ

Sắt son đời lính trận - Chương II - Ký ức đẹp từ giường bệnh

KÝ ỨC ĐẸP TỪ GIƯỜNG BỆNH.Hà Nội những ngày đầu năm đón bước chân chúng tôi bằng một kịch bản thời tiết không thể ảm đạm hơn. Khi tờ lịch rục rịch chuyển sang tháng Hai, cái rét ngọt ngào, đậm đà vị Tết của mùa xuân chẳng thấy đâu, chỉ có những đợt…

Dương Thanh Biểu
Dương Thanh Biểu

Xuất bản: 17/09/2026

KÝ ỨC ĐẸP TỪ GIƯỜNG BỆNH.

Hà Nội những ngày đầu năm đón bước chân chúng tôi bằng một kịch bản thời tiết không thể ảm đạm hơn. Khi tờ lịch rục rịch chuyển sang tháng Hai, cái rét ngọt ngào, đậm đà vị Tết của mùa xuân chẳng thấy đâu, chỉ có những đợt gió mùa Đông Bắc tràn về muộn mằn. Chúng mang theo cái lạnh phùn hanh hao, cứ thế luồn lách qua từng lớp áo đại cán sờn gấu. Người đời thường bảo tuổi bốn mươi hai là độ chín của đấng nam nhi, cái tuổi mà công danh và trải nghiệm đã chảy đều đặn, bình lặng như một dòng sông phẳng lặng. Thế nhưng, đối với tôi, cái “độ chín” ấy chẳng mấy êm ả: vết thương cũ tái phát.

Vết thương nơi thắt lưng - chứng tích trận đánh ác liệt của một thời hoa lửa năm xưa tại chiến trường Tây Nguyên khốc liệt - bỗng chốc "thức giấc" sau một giấc ngủ dài. Nó biến thành một chiếc máy dự báo thời tiết bằng xương bằng thịt, nhạy cảm đến độ đáng sợ. Cứ mỗi bận trái gió, trời trở, những mảnh sắt nguội lạnh của kẻ thù găm sâu nơi cột sống lại bắt đầu một cuộc chiến ngầm. Nó cào cấu, nhức buốt dọc sống lưng, bóp nghẹt mọi ý định vận động. Có những ngày cao điểm, ngồi bên bàn làm việc của Vụ 2C - Viện kiểm sát nhân dân tối cao, mà hai tay phải ghì mạnh vào mặt bàn cho đỡ đau. Nhiều hôm, hết giờ, mọi người về hết, nhưng tôi phải nằm nghiêng trên chiếc giường cá nhân nơi góc phòng, cắn răng chịu đựng từng nhịp nhói buốt tê người, để lấy sức đạp xe về. Chiến tranh đã lùi xa vào bảng lảng sương khói, nhưng cái giá của hòa bình thì hình như vẫn được nhắc nhở, âm ỉ dưới da thịt. Nhiều đêm thấy chồng đau đến vã mồ hôi hột, nhà tôi phải thốt lên:

- Anh không thể cứ cậy mình là lính chiến, coi thường vết thương mãi được. Xin phép cơ quan, đi viện điều trị, thôi anh!

Tiếng của nhà tôi - người đàn bà đã gánh vác bao lo toan bộn bề từ ngày hai đứa mới dắt nhau vào lễ đường - vang lên khẩn thiết, vừa dứt khoát lại vừa chứa chan sự bất lực thương yêu. Nhìn khuôn mặt hốc hác vì thức đêm của vợ, nhìn cái dáng gầy guộc cứ ngược xuôi lo cho các con ăn học rồi sắc những thang thuốc nam, thuốc bắc sặc mùi thảo mộc, tôi biết cái đầu bướng bỉnh của mình đã đến lúc phải đầu hàng. Sau khi hoàn thiện dự thảo báo cáo quý của đơn vị, tôi báo cáo xin phép lãnh đạo cơ quan, chính thức vào bệnh viện vào một ngày rét đậm: ngày 12 tháng 2 năm 1991.

Sau khi các bác sĩ hội chẩn, tôi được chỉ định đi chụp X-quang và chụp cộng hưởng từ (MRI). Thời bấy giờ, cái khái niệm “cộng hưởng từ” nghe xa xỉ và mới mẻ như chuyện viễn tưởng, chỉ những ca phức tạp đến độ "nhức đầu" người ta mới phải dùng đến cái máy khổng lồ ấy.

Quy trình ban đầu chụp X- quang diễn ra khá suôn sẻ. Nhưng khi chụp MRI thì rất phức tạp. Theo chỉ dẫn của kỹ thuật viên, tôi ngoan ngoãn nằm vào băng chuyền. Chiếc máy khổng lồ bắt đầu khởi động, tiếng động cơ chạy rì rì nghe khá êm tai. Thế nhưng, ngay khi băng chuyền vừa đưa tôi lọt thỏm vào khoang máy, không gian bỗng vang lên những tiếng kêu lạ lùng, phá tan sự im ắng: “Ro ro… ro ro… kịch… kịch!”

Tiếng kêu dồn dập, bất thường kèm theo ánh đèn tín hiệu cảnh báo nhấp nháy liên hồi như đang gặp phải vật thể lạ ngoài hành tinh. Người kỹ thuật viên nhíu mày, vội vàng tắt máy, bước ra băng chuyền bảo tôi ngồi dậy với vẻ mặt đầy nghiêm trọng:

- Chú kiểm tra kỹ lại túi quần, túi áo xem có sót chìa khóa, đồng xu hay vật dụng kim loại nào không? Máy này kị nhất là kim loại đấy ạ!

Tôi lóng ngóng đứng dậy, lục lọi kỹ lưỡng bộ quần áo bệnh nhân màu xanh bàng bạc, rộng thùng thình từ trên xuống dưới. Hai túi áo trống rỗng, túi áo ngực cũng chẳng có chi ngoài cái thẻ gửi xe máy bằng giấy. Tôi nhìn cậu kỹ thuật viên lắc đầu, khẳng định chắc như đinh đóng cột:

- Không có gì đâu cháu ạ!

Cậu kỹ thuật viên lại nhíu mày sâu hơn, nhìn tôi một lượt rồi bảo:

- Chú hả mồm cháu xem nào?

Tôi buồn cười, nghĩ bụng chắc cậu chàng đang nghi mình giấu... răng vàng trong miệng. Cậu ta kiểm tra xong, không thấy gì bèn đưa tay ra hiệu để tôi tiếp tục nằm lên băng chuyền. Lần thứ hai, rồi lần thứ ba, cứ hễ băng chuyền vừa đẩy tôi vào, chiếc máy lại bướng bỉnh phát ra những tiếng “ro…ro” đầy từ tính, như thể đang phát hiện ra một kho báu bí mật dưới lớp da thịt của ông thương binh. Sự kiên nhẫn của người kỹ thuật viên trẻ dường như đã chạm giới hạn. Anh ta bước hẳn vào gần băng chuyền, ra hiệu cho tôi ngồi dậy, khoanh tay trước ngực rồi nhìn tôi bằng ánh mắt dò hỏi đầy nghi vấn. Nếp nhăn giữa hai chân mày cuộn lên vẻ khó chịu pha lẫn bất lực:

- Chú này, cháu nói thật, máy cộng hưởng từ này trị giá cả một gia tài, nó nhạy với kim loại lắm. Theo hồ sơ bệnh án, chú là thương binh. Vậy cháu hỏi thật, trong người chú hiện tại có còn mảnh đạn nào... giấu làm kỷ niệm chưa lấy ra không?

Đến lúc này, cái đầu già của tôi mới sực tỉnh. Tôi bật cười, một nụ cười méo xệch vì vừa đau vừa ái ngại, gật đầu lia lịa:

- Chết nỗi... Tôi quên khuấy mất! Đúng là còn hai mảnh đạn nằm sâu sau lưng tôi, ngay sát cột sống cháu ạ.

Người kỹ thuật viên ớ ra một lúc, cái vẻ bực dọc trên mặt bay biến đâu mất, thay vào đó là một tiếng thở dài thốt lên đầy thông cảm:

- Thảo nào máy cứ kêu ro ro liên hồi! Thế thì cháu chịu rồi chú ạ, không chụp cộng hưởng từ được đâu. Từ trường mạnh của máy này mà nó "hút" một phát thì mảnh đạn xuyên qua người chú mất, nguy hiểm lắm!

Hai ngày sau cuộc thử thách bất thành bằng công nghệ hiện đại ấy, các bác sĩ đã phải dùng đến kinh nghiệm lâm sàng cùng các phương pháp định vị truyền thống để hội chẩn khẩn cấp. Quyết định cuối cùng được đưa ra: Phẫu thuật.

Sau khi thuốc mê ngấm, ca mổ kéo dài nhiều giờ đồng hồ dưới ánh đèn phòng mổ sáng trưng, lạnh ngắt. Bằng sự khéo léo của những đôi tay tài hoa ẩn sau lớp áo blouse trắng, họ đã gắp ra được mảnh đạn đầu tiên - một mẩu thép hoen rỉ, nhỏ hơn đầu đũa, nằm áp sát cạnh cột sống L3. Nhìn mẩu sắt vô tri ấy nằm trên khay, tôi rùng mình nghĩ về những năm tháng bom đạn gầm vang ở Tây Nguyên.

Tuy nhiên, cuộc phẫu thuật phải dừng lại ở đó. Mảnh đạn thứ hai nằm ở một vị trí quá hiểm hóc, găm sâu vào đốt sống, trong khi sức khỏe của tôi lúc ấy đã suy kiệt do mất máu và chịu đau kéo dài. Khi tôi tỉnh lại, bác sĩ đến thăm khám rồi vỗ vai tôi động viên bằng một giọng điệu vừa ân cần vừa nghiêm túc:

- Hiện nay mảnh đạn sau cột sống của anh rất phức tạp. Trước mắt, chúng tôi phải dừng lại để bảo toàn tính mạng cho anh đã. Mảnh thứ hai phải đợi cơ thể hồi phục mới xử lý tiếp được. Nhưng tôi dặn trước, cái lưng này sau ca mổ phải chịu khó tập luyện. Nếu cứ ngồi bàn giấy, lười vận động thì hậu quả tai hại lắm. Có những bệnh nhân bị thương cột sống như thế này, sau 60 tuổi là liệt, không đi lại được đâu!

Lời nói của bác sĩ như một gáo nước đá dội thẳng vào lòng tôi. Đầu óc tôi lập tức quay cuồng, hiện lên hình ảnh những lần đi thăm các Trung tâm điều dưỡng thương binh. Tôi nhớ đến những người đồng đội cũ, những chàng trai mười chín đôi mươi năm nào giờ phải nằm bất động trên giường, mọi sinh hoạt phụ thuộc vào chiếc xe lăn và người thân. Nỗi lo sợ mơ hồ về một tương lai bất động, về cái ngưỡng tuổi 60 nghiệt ngã khiến lồng ngực tôi thắt lại. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, lòng trĩu nặng một nỗi hoang mang vô cùng.

Sau ca mổ ba ngày, cơ thể tôi chuyển biến tốt rõ rệt. Cảm giác nặng nề, u uất tích tụ bấy lâu dường như đã vơi đi một nửa cùng mảnh đạn hoen rỉ vừa được giải phóng khỏi cơ thể. Tôi đã có thể tự mình ngồi dậy, chống tay bên thành giường vững chãi hơn và chầm chậm đi lại vài vòng quanh căn phòng bệnh nhỏ để "chạy roda" lại cơ thể.

Hôm đó là một buổi sáng mùa xuân đặc trưng của đất Hà thành. Gió mùa Đông Bắc lại đột ngột ập về sau một đêm yên ả. Qua khung cửa kính bám đầy hơi nước của phòng bệnh, tôi nhìn thấy những hàng cây xà cừ dưới sân bệnh viện đang gồng mình đung đưa, trò chuyện xào xạc trước từng cơn gió rít. Thời tiết chuyển lạnh đột ngột làm vùng cơ thịt quanh vết mổ chưa kịp lành miệng lại nhói lên từng hồi buốt sắc, nhắc nhở tôi về sự hiện diện của chiến trường năm xưa.

Vợ tôi vừa từ nhà ăn tập thể dưới tầng một bước lên. Trên tay cô ấy khệ nệ bưng một âu cháo gốm được bọc cẩn thận trong chiếc khăn bông để giữ nhiệt. Thấy trong phòng có vài bệnh nhân lớn tuổi vừa mới từ phòng hậu phẫu chuyển về đang cần không gian yên tĩnh tuyệt đối để truyền dịch, nhà tôi liền tiến lại gần, khẽ ghé sát tai tôi nói nhỏ nhẹ bằng chất giọng ngọt ngào quen thuộc:

- Mình ra phòng bên cạnh ngoài hành lang ngồi cho thoải mái anh nhé, ở đây đông người sợ ảnh hưởng các bác đang truyền.

Tôi gật đầu, chầm chậm bước theo nhà tôi sang gian phòng khách nhỏ dành cho người nhà bệnh nhân ở cuối dãy. Khi nắp âu cháo vừa được mở ra, một làn khói trắng nghi ngút mang theo mùi thơm phức đặc trưng của hành hoa cắt nhỏ, tía tô kinh giới và thịt băm tươi phả thẳng vào cánh mũi. Tự nhiên, cái bụng rỗng tuếch sau mấy ngày ròng ăn uống kiêng khem của tôi bắt đầu "biểu tình" dữ dội, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Tôi đón lấy bát cháo ấm nóng từ tay vợ, vừa thổi vừa ăn một cách ngon lành như đứa trẻ được quà. Ăn xong, lau vệt mồ hôi rịn trên trán, tôi nhìn vợ bằng ánh mắt đầy trìu mến:

- Hôm nay em mua cháo ở đâu mà ngon thế? Cảm ơn em thật nhiều nhé!

Vợ nhìn tôi với ánh mắt âu yếm, mắt lấp lánh niềm vui khi thấy ông chồng mấy lâu rồi hay nhăn nhó, khó tính vì vết thương đau nay đã tìm lại được cảm giác thèm ăn của một người lính. Cô ấy cười, giọng tràn đầy động viên:

- Em vẫn mua dưới nhà ăn bệnh viện, vẫn y chang món cháo mọi hôm anh ăn mà. Tại hôm nay anh khỏe hơn, trong người thấy nhẹ nhõm nên ăn ngon miệng đấy. Anh ăn được là em mừng rơi nước mắt rồi.

Thấy vợ cười tươi, trong phòng lúc này chỉ có hai người, cái máu tếu táo của người lính năm xưa trong tôi bỗng dưng sống dậy. Tôi nháy mắt trêu đùa:

- Công nhận... cháo ngon hơn cơm thật em ạ!

Nhà tôi nghe vậy liền lắc đầu, bật cười khúc khích, vỗ nhẹ vào vai tôi một cái rõ yêu:

- Kìa, ở đời chẳng ai nói “Cháo ngon hơn cơm” đâu nhé! Người ta chỉ bảo “Phở ngon hơn cơm”, đúng không? Các anh trai tráng, ai mà chẳng thích phở!

Tôi bật cười theo cái lý sự hóm hỉnh và sâu sắc của vợ, liền phụ họa ngay:

- Thì đúng là phở ngon thật, nhưng mà phở làm sao thay thế được cơm, em nhỉ? Cơm vẫn là nhất, cơm bền vững lâu dài nhất!

Hai vợ chồng đang cười nói rôm rả, xua tan đi cái không khí lạnh lẽo, ảm đạm của gió mùa ngoài hành lang thì chợt có tiếng chuông điện thoại reo lên cắt ngang câu chuyện "phở cơm" đang đà rôm rả. Giọng khàn khàn nhưng vô cùng ấm áp của đồng đội Đăng vang lên ở đầu dây bên kia:

- Anh nằm phòng nào vậy?

Tôi vội trả lời:

- Quý hóa quá. Phòng 912.

Chỉ chưa đầy một phút sau, tiếng Đăng tiếp tục reo vui qua máy:

- Bọn em đang gần đến rồi!

Cuộc gọi điện vừa dứt, tôi đã nghe thấy tiếng bước chân dồn dập, rộn ràng từ phía cuối hành lang bệnh viện đi tới. Tôi ngước mắt nhìn ra cửa, thấy một nhóm người mặc áo khoác dày mùa đông đang rảo bước tiến lại gần. Dẫn đầu là một người đàn ông có vóc dáng cao to, vầng trán rộng mênh mông toát lên vẻ thông tuệ mẫn tiệp, đặc biệt là đôi lông mày rậm, chếch ngược lên trên đầy uy nghi, mạnh mẽ.

Dù người ấy mặc thường phục dân sự, tôi vẫn nhận ra ngay lập tức sau một giây ngỡ ngàng. Cái thần thái uy nghiêm không thể lẫn vào đâu được, khuôn mặt cương nghị... hao hao giống vị Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mà tôi đã từng gặp - Thủ trưởng Thảo!

Tôi khẩn trương sửa lại vạt áo bệnh nhân sờn cũ, định chống hai tay xuống thành ghế, cố gồng mình đứng dậy để chào Thủ trưởng theo đúng tác phong quân đội. Nhưng Thủ trưởng đã bước rất nhanh lại chỗ tôi. Ông mặc một chiếc áo khoác Bu-dong màu đen giản dị, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn thời gian bỗng nở một nụ cười vô cùng ấm áp, bao dung. Sự xuất hiện của ông trong trang phục đời thường tại một bệnh viện dân y thế này khiến tôi hoàn toàn bất ngờ.

Không để tôi kịp cử động làm ảnh hưởng đến vết mổ, Thủ trưởng đã cúi thấp người xuống. Bàn tay hộ pháp, to dày nhưng vô cùng ấm áp của ông vỗ nhè nhẹ lên vai tôi, giữ tôi ngồi yên:

– Đồng chí cứ ngồi xuống cho thoải mái, đang là bệnh nhân cơ mà! Cố gắng nhé.

Cùng lúc đó, từ phía sau tấm lưng to lớn của ông, ba gương mặt thân quen khác bước vào phòng. Đó là Cung Thế Đăng, Lê Ngọc Châu và Lê Bá Quặng - những người đồng đội ruột thịt, những người lính cũ của Đại đội 1 năm xưa. Cảm xúc trong tôi như vỡ òa, lồng ngực thắt lại vì sung sướng. Tôi đưa hai tay nắm thật chặt từng người. Những cái siết tay của những người đàn ông từng chung nhau một chiến hào, từng dắt nhau đi qua lằn ranh mỏng manh của sinh tử, giờ gặp lại giữa thời bình sao mà ấm áp đến lạ thường.

Nhà tôi khéo léo, nhanh nhẹn bê ra một ấm trà mạn mới pha nóng hổi. Mùi thơm chát ngọt của trà lan tỏa khắp khán phòng, cô ân cần rót ra từng chén sứ nhỏ mời Thủ trưởng và các anh.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo ngồi xuống chiếc ghế băng đối diện với tôi. Tôi nhìn Thủ trưởng, rồi đáo mắt nhìn nhà tôi đầy tự hào:

- Đây là vợ em, tên Lan Thủ trưởng Thảo à.

Thủ trưởng gật đầu, nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân, rồi đảo mắt nhìn sang vợ tôi và các đồng đội xung quanh, giọng nói trầm ấm, vang vọng:

- Nghe tin đồng chí Biểu mổ vết thương tái phát, tớ sốt ruột quá, bèn điện hỏi thăm mấy anh bạn bên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì được biết đồng chí vừa mổ và đang nằm điều trị ở đây - Nói đến đây, ông quay sang nhìn Đăng, Châu và Quặng với ánh mắt lấp lánh niềm vui rồi tiếp tục - Thế là tớ alo gọi thêm mấy anh em đồng đội cũ cùng Đại đội 1 vào thăm đồng chí cho đông vui. Thế nào, ca mổ ổn định cả chứ? Vết thương đã đỡ đau nhức chưa?

Tôi lặng người đi, cổ họng nghẹn đắng, lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào không từ ngữ nào có thể tả xiết. Trước khi vào bệnh viện, tôi đã nghe phong thanh tin tức từ các cơ quan thông tấn về việc Thủ trưởng Thảo vừa thôi giữ chức Bí thư Ðảng ủy Học viện Quân sự cấp cao để nhận những trọng trách mới nặng nề hơn của Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó: Người đứng đầu - Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự thuộc Bộ Quốc phòng; Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng; Ủy viên Thường trực Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam…

Một vị tướng chiến lược lỗi lạc, một nhà khoa học quân sự tầm cỡ đang bận rộn với “đại sự quốc gia”, mỗi phút mỗi giây của ông giờ quý như vàng ngọc. Vậy mà ông vẫn dành thời gian, lặn lội trong cái rét căm căm để đến tận giường bệnh thăm một người lính cấp dưới năm xưa. Hai mắt tôi chợt rưng rưng vệt nước mờ, giọng tôi lạc hẳn đi vì cảm động:

– Báo cáo Thủ trưởng... Em mổ được ba ngày rồi ạ. Các bác sĩ đã phẫu thuật lấy được một mảnh đạn ra rồi. Còn một mảnh nữa nằm ở vị trí quá hiểm hóc, sát ngay cột sống thì chưa lấy được. Bác sĩ bảo phải chờ một thời gian nữa, lúc nào sức khỏe hồi phục mới tiến hành xử lý tiếp ạ.

Thủ trưởng Thảo nghe xong liền đăm chiêu trầm mặc. Đôi lông mày rậm và uy nghi của ông nhíu chặt lại, lộ rõ vẻ lo lắng, xót xa của một người cha, người anh cả đối với đứa em ruột thịt đồng đội của mình:

- Vết thương găm vào vùng cột sống là cực kỳ nguy hiểm và phức tạp đấy đồng chí Biểu ạ. Mình có mấy anh bạn chiến đấu năm xưa ở mặt trận miền Trung cũng bị mảnh găm vào cột sống, sinh hoạt khó khăn lắm, giờ tuổi cao chỉ biết nằm một chỗ trong Trung tâm điều dưỡng thương binh. Đồng chí bị tổn thương sâu như vậy mà hôm nay vẫn tự ngồi dậy đi lại, ngồi trò chuyện tỉnh táo được thế này đã là một sự may mắn tuyệt vời, một nghị lực phi thường của người lính.

Tôi nhấp ngụm nước trà ấm để nén cơn xúc động, nhìn Thủ trưởng gật đầu:

- Báo cáo Thủ trưởng. Hiện nay vẫn còn rất nhiều thương binh của Sư đoàn 10 chúng ta đang an dưỡng tại các Trung tâm điều dưỡng thương binh. Trong đó có nhiều anh em bị thương nặng vào cột sống, cả đời phải gắn liền với chiếc xe lăn. Cứ đến ngày 27/7 hàng năm, anh em trong Ban liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 10 lại tổ chức vào thăm, tặng quà. Chiến tranh đã lùi xa rồi mà các anh vẫn ngày ngày bị đau đớn hành hạ bởi vết thương cũ. Nhìn anh em nằm đó mà thương quá Thủ trưởng à.

Ngồi bên cạnh nghe mọi người chuyện trò, nhà tôi chợt không kìm được nỗi lòng, hai mắt rưng rưng, vẻ lo lắng lộ rõ trên khuôn mặt thanh tú:

- Báo cáo bác Thảo và các anh em. Bác sĩ điều trị ở đây có khuyên nhà em là sau ca mổ phải năng tập thể dục, vận động khoa học. Kẻo cứ ngồi bàn giấy lười tập là đến tuổi 60, vết thương làm cột sống thoái hóa sẽ không thể đi lại được nữa. Chúng em nghe xong mà cảm thấy lo lắng, bất an quá bác ạ.

Thủ trưởng Thảo hơi nhíu mày, băn khoăn nhìn vợ tôi với ánh mắt cảm thông sâu sắc:

- Vết thương chiến tranh, nhất là đạn mảnh găm vào cột sống thì độc địa là vậy đấy cô Lan ạ. Nhưng giờ y học hiện đại rồi, mình cứ phải kiên trì làm theo đúng hướng dẫn tập luyện của bác sĩ chuyên khoa.

Chợt Thượng tướng quay lại nhìn thẳng vào tôi. Ông dừng lại một chút, ánh mắt như đang lục tìm, định vị lại một mảnh ký ức xa xăm giữa hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trong đời binh nghiệp, rồi ông hỏi:

- Đồng chí Biểu bị mảnh đạn hiểm hóc vào lưng này chắc là trong trận đánh Đắc Xiêng phải không nhỉ?

Tôi vội thẳng lưng, dõng dạc báo cáo theo thói quen quân ngũ đã ngấm vào máu:

- Báo cáo Thủ trưởng! Trong trận đánh Đắc Xiêng, em bị trúng 3 vết thương nhưng may mắn chỉ vào tay và chân thôi ạ. Còn vết thương hiểm ác vào cột sống lần này là trong trận đánh Bắc Võ Định vào thời điểm cuối tháng 1 năm 1973 ạ!

Nghe đến hai từ "Võ Định", ánh mắt của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo chợt hướng ra phía khung cửa sổ hành lang. Ngoài trời, tiếng gió mùa Đông Bắc vẫn rít lên từng hồi, hàng cây xà cừ cổ thụ vật vã nghiêng ngả dưới sân. Cái lạnh như xuyên qua khe cửa kính, khiến vết mổ sau lưng tôi lại nhói lên một nhịp đau rát, nhưng lòng tôi lại ấm áp lạ thường khi nhìn vào đôi mắt đầy ắp những thước phim ký ức của Thủ trưởng.

Tháp tùng GS Thượng tướng Hoàng Minh Thảo vào thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày 22/12/2005

Sau một vài giây suy tư trầm lắng, Thủ trưởng gật đầu, ánh mắt ông sáng rực lên:

- Tôi nhớ rồi! Trong trận đánh ác liệt bảo vệ Võ Định năm đó, Đại đội 1 của Tiểu đoàn 1 đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Các đồng chí đã xuất sắc chốt giữ trận địa, tiêu diệt và làm thiệt hại nặng nề cả một tiểu đoàn quân địch tinh nhuệ, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Ngay sau trận đánh đó, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam được ký kết vào ngày 27/1/1973.

Nói đến đây, giọng của ông bỗng chùng xuống đầy xúc động, ông quay sang nhìn anh Đăng, anh Châu rồi dừng mắt tại anh Quặng:

- Chỉ tiếc rằng... Đại đội 1 của các đồng chí lúc ấy cũng chịu thương vong, tổn thất tương đối lớn. Sự hy sinh của anh em là niềm đau chung, niềm đau đáu trong lòng những người chỉ huy như chúng tôi. Nhưng hôm nay, ngồi đây nhìn thấy các anh em cán bộ của Đại đội 1, những hạt giống đỏ xuất sắc bước ra từ bão lửa sinh tử Võ Định, đều đã trưởng thành, có người là Đại tá, Thiếu tá, Phó Vụ trưởng. Tôi thật sự phấn khởi và tự hào về Đại đội 1 chủ công của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28 Anh hùng!

Lời khen ngợi rút ra từ tận gan ruột của vị Thủ trưởng, Tổng tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên năm xưa khiến lòng tôi trào dâng một niềm tự hào kiêu hãnh. Một dòng máu nóng chạy rần rật trong huyết quản về truyền thống kiên cường của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28 Anh hùng. Tôi miên man nghĩ về ngày ấy, khi tôi - trên cương vị Đại đội trưởng - bị thương gục xuống phải rời trận địa, anh Cung Thế Đăng đã lập tức lên thay tôi chỉ huy đại đội giữ vững trận địa. Sau này, anh Đăng đã là Đại tá, Chủ nhiệm khoa Tấn công của Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng). Người kế nhiệm tiếp theo làm Đại đội trưởng là anh Lê Bá Quặng. Sau này anh Quặng được cấp trên điều động về Ban Tác chiến Sư đoàn 10 với cấp hàm Thiếu tá. Và sau đó, anh Lê Ngọc Châu được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thay anh Lê Bá Quặng. Anh Lê Ngọc Châu sau này cũng trưởng thành, mang quân hàm Đại tá, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa. Thật quý hóa và nghĩa tình xiết bao khi cả ba người kế nhiệm, ba người đồng đội chủ chốt của Đại đội 1 năm xưa, tháp tùng Thủ trưởng Thảo vào thăm hỏi tôi.

Nghe Thủ trưởng Thảo nhắc lại chiến công năm xưa với niềm tự hào, các anh Đăng, Châu, Quặng đều xúc động nghẹn ngào gật đầu. Đại tá Cung Thế Đăng nhìn Thủ trưởng Thảo, rồi quay sang nhìn tôi bằng ánh mắt đầy hoài niệm, giọng anh bồi hồi:

- Báo cáo Thủ trưởng, trong trận đánh khốc liệt năm đó, anh Biểu là Đại đội trưởng kiên cường của chúng tôi - Nói đến đây, anh Đăng chỉ tay sang anh Châu và chính mình rồi tiếp - Còn anh Châu và tôi lúc ấy là Trung đội trưởng dưới quyền anh Biểu. Vì nhiệm vụ bảo vệ từng tấc đất vùng giải phóng, chúng tôi phải chốt giữ và chiến đấu liên tục nhiều ngày đêm không ngủ. Quân địch vừa đông, lại có hỏa lực pháo binh tầm xa và không quân Mỹ yểm trợ cực kỳ tàn khốc, nên đơn vị bị thương vong tương đối nhiều - Anh Đăng dừng lại một chút, nhấp ngụm nước trà mạn để lấy giọng, ánh mắt anh long lên khi nhớ về những giây phút giằng co quyết liệt - Đang trong lúc chiến sự bước vào giai đoạn căng thẳng, giằng co ác liệt nhất thì anh Biểu bị trúng đạn mảnh vào cột sống, ngã gục xuống hầm không thể đi lại được nữa. Nghe tin người Đại đội trưởng chỉ huy bị thương nặng, anh em trong toàn đơn vị nén đau thương, biến thành hành động căm thù. Chúng tôi đồng lòng quyết chiến, quyết giữ vững trận địa bằng mọi giá để trả thù cho đồng đội. Cuối cùng, đơn vị đã giành chiến thắng hoàn toàn, bảo vệ nguyên vẹn vùng giải phóng.

Anh Đăng vừa dứt lời, Thủ trưởng Thảo và mọi người có mặt trong căn phòng khách bệnh viện đều trầm ngâm gật đầu. Bất chợt, anh Lê Bá Quặng - người nãy giờ vẫn im lặng ngồi lắng nghe - nhìn Thủ trưởng Thảo rồi hướng mắt về phía tôi, giọng anh run lên vì xúc động, tái hiện lại câu chuyện sinh tử như vừa mới diễn ra ngày hôm qua:

- Báo cáo Thủ trưởng! Trong trận đánh Võ Định năm ấy, tôi là trinh sát của Trung đoàn 28 được điều động đi phối thuộc trực tiếp với Đại đội 1. Lúc anh Biểu bị thương, tình hình tại trận địa vô cùng nguy kịch. Quân địch cho máy bay và pháo binh bắn phá điên cuồng, cày nát từng mét đất. Ngớt bom đạn, bộ binh địch lại tràn lên như kiến cỏ hòng đánh chiếm trận địa của ta. Trong lúc đó, anh em vận tải cáng thương của tuyến sau chưa thể lên kịp do con đường độc đạo bị phi pháo bắn chặn ác liệt. Anh Biểu nằm dưới hầm chật hẹp, máu tuôn ra từ vết thương cột sống rất nhiều, các túi băng cá nhân nhỏ không thể nào cầm máu nổi. Tôi thừa hiểu nếu chậm trễ cấp cứu dù chỉ mươi mười lăm phút thôi, anh Biểu sẽ hy sinh vì mất máu cấp - Nói đến đây, anh Quặng nuốt nước miếng, đôi mắt anh đỏ hoe khi nhớ lại khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc - Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc ấy, tôi đã liều mình, gọi điện báo cáo trực tiếp với Thủ trưởng Nguyễn Quốc Thước - khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 - để báo cáo về tình hình nguy kịch của anh Biểu. Nghe xong, Thủ trưởng Thước lập tức ra chỉ thị đanh thép, vang lên qua bộ đàm: “Bằng mọi giá, bằng mọi cách, phải khiêng hoặc cõng bằng được đồng chí Biểu ra khỏi trận địa, đưa về trạm phẫu thuật tiền phương ngay lập tức!”. Nhận lệnh xong, chẳng kịp suy nghĩ đến an nguy bản thân, một mình tôi cúi xuống xốc anh Biểu lên lưng, rồi cõng anh chạy băng băng qua các làn đạn pháo đang cày xới đất đá, vượt qua bao bãi trống đầy khói bom khét lẹt, ra đến trạm phẫu thuật tiền phương an toàn. Nhờ thế mà anh Biểu được các bác sĩ cấp cứu kịp thời. Chứ ngày đó nếu tôi chậm một chút, hoặc chần chừ một giây... thì hôm nay anh em mình chẳng thể ngồi đây uống trà ấm thế này nữa đâu Thủ trưởng ạ!

Tôi nhìn anh Quặng, cái gật đầu nhẹ nhàng thay cho lời tri ân sâu sắc nhất, một món nợ ân tình bằng cả mạng sống. Đó chính là nghĩa tình đồng đội thiêng liêng, là lằn ranh sinh tử của đời lính chiến, thứ tình cảm được thử thách, tôi luyện qua máu và lửa, nơi người ta sẵn sàng dùng thân mình để che chắn đạn bom, cứu đồng đội.

Từ câu chuyện khốc liệt mà anh Quặng kể, ký ức trong tôi lại nối dài đến một kỷ niệm vô cùng xúc động và hóm hỉnh sau này. Đó là lần đoàn cựu chiến binh Quân đoàn 3 Anh hùng vinh dự được mời vào Phủ Chủ tịch để yết kiến Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khi ấy, Thủ trưởng Nguyễn Quốc Thước của chúng tôi do tuổi cao sức yếu, nên bước chân đi run rẩy, phải có người dìu hai bên mới có thể vững vàng bước lên các bậc thềm đá cao của sảnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Nhìn thấy người chỉ huy năm xưa gặp khó khăn, mấy anh em cựu chiến binh chúng tôi, ùa lại, xúm vào nâng hai cánh tay, đỡ lấy bả vai, dìu Thủ trưởng Thước bước lên từng bậc thang.

Thủ trưởng Thước thấy có người muốn chen vào để dìu mình mà không được, liền quay sang nhìn tôi và mấy anh bạn xung quanh. Nhận ra ngay tôi, người lính năm xưa ở mặt trận Võ Định, ông nở một nụ cười cực kỳ tươi tắn, hóm hỉnh trước mặt mọi người:

- Trong trận đánh tại Võ Định, tôi là người ra lệnh cõng đồng chí Biểu từ trận địa ra tuyến sau để cấp cứu kịp thời... Thế nên bây giờ, đồng chí Biểu phải có trách nhiệm dìu tôi đi nhé!

Lời nói đùa chứa chan nghĩa tình ấy của ông khiến tất cả chúng tôi, các cựu chiến binh, đều bật cười vang rộn rã. Khoảnh khắc ấy, giữa không gian uy nghiêm, trang trọng của Phủ Chủ tịch, cái khoảng cách giữa một vị tướng Anh hùng và những người lính bình thường hoàn toàn bị xóa nhòa, chỉ còn lại tình yêu thương gắn kết vô bờ bến của hai thế hệ đi qua cuộc chiến. Chúng tôi vừa dìu ông đi, vừa ôn lại những câu chuyện cũ, tiếng cười rộn rã vang động cả một góc sân Phủ Chủ tịch.

Tôi đang mải mê chìm đắm trong dòng suy tưởng về tình đồng đội ấm áp, về cái dạo anh Quặng cõng tôi trên lưng chạy qua làn mưa bom bão đạn ở Võ Định, thì giọng nói trầm ấm của Thủ trưởng Thảo đã kéo tôi trở về với thực tại:

- Tôi thật bất ngờ về ký ức đẹp của Đại đội 1. Thắng lợi trong trận đánh Võ Định năm ấy, tôi đã được Trung đoàn 28 báo cáo lại rất cụ thể, chi tiết ngay sau khi kết thúc chiến dịch. Chỉ tiếc là dạo đó đồng chí Biểu bị thương quá nặng, phải chuyển ngay ra Bắc để điều trị lâu dài nên tôi chưa có dịp gặp mặt biểu dương. Tôi nhớ không nhầm thì trong trận ấy, tập thể đơn vị và cá nhân đồng chí Biểu đã được Mặt trận tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì đấy chứ nhỉ?

Tôi lặng người, thực sự xúc động trước trí nhớ mẫn tiệp phi thường và sự quan tâm sâu sắc đến từng chi tiết của Thủ trưởng Thảo. Một trận đánh nhỏ đã trôi qua gần hai mươi năm trời, giữa biết bao chiến dịch lớn tầm cỡ quốc gia, vậy mà ông vẫn nhớ chi tiết đến từng tấm huân chương của một người lính cấp dưới. Tôi nhìn ông, lòng đầy thán phục kính trọng:

- Trí nhớ của Thủ trưởng thật tuyệt vời ạ! Chúng em vô cùng kính phục sức làm việc và trí tuệ của Thủ trưởng.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đứng dậy, ông sửa lại nếp áo khoác Bu-dong màu đen, ánh mắt trìu mến nhìn quanh một lượt những người lính cũ của Đại đội 1 với niềm tin tưởng hiện rõ trên khuôn mặt cương nghị:

Bây giờ cũng đã muộn, chúng tôi phải quay về cơ quan để tiếp tục giải quyết công việc. Thay mặt anh em, chúc đồng chí Biểu chóng hồi phục sức khỏe, dưỡng thương cho thật tốt để sớm trở lại cơ quan, tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà ngành Kiểm sát đã tin tưởng giao phó nhé!

Tôi và vợ đứng lên tiễn Thủ trưởng Thảo và đoàn ra tận phía cuối hành lang bệnh viện. Nhìn bóng dáng cao lớn, nhanh nhẹn của người thầy, vị Tư lệnh - Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo - khuất dần sau làn sương mờ và cái lạnh của buổi sáng mùa xuân Hà Nội, lòng tôi dâng trào một cảm xúc tự hào xen lẫn kính trọng vô biên.

Dù ở đỉnh cao của vinh quang chiến trận, dù bận rộn với ngàn công việc mang tầm chiến lược Quân đội - quốc gia, ông vẫn luôn dành một góc trang trọng, ấm áp trong tim cho những người đồng đội của mình. Sự quan tâm ân tình ấy chính là liều thuốc vô giá, tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn để tôi vượt qua nỗi đau thể xác, tiếp tục sống và cống hiến, xứng đáng với danh hiệu người lính Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận mới - mặt trận bảo vệ pháp luật.

Khi Thủ trưởng Thảo và đoàn ra về, tôi trở vào phòng bệnh nằm nghỉ trên chiếc giường cho đỡ đau nhức vết mổ. Nhà tôi nhẹ nhàng đi lại, mở hộp sữa ấm động viên tôi uống lấy sức. Nhìn tôi uống sữa, cô ấy khẽ thở dài, đôi mắt lại trĩu nặng nỗi lo âu ngọt ngào:

- Em nghe bác Thảo và các bác sĩ nói về vết thương sau lưng của anh mà cảm thấy lo lắng lắm. Anh phải cố ăn khỏe và năng tập luyện theo lời khuyên của bác sĩ, kẻo chưa đến tuổi già mà lại nằm một chỗ thì khổ cho anh và cả gia đình mình nữa đấy.

Nghe nhà tôi nói, tôi chợt nhớ đến các đồng đội đang nằm điều trị trong các Trung tâm điều dưỡng thương binh mà mình từng đến thăm. Nhiều người bị thương nặng vào cột sống khi tuổi đời còn quá trẻ, khi ra Bắc thì bố mẹ ở quê cũng đã mất từ lâu. Bao nhiêu năm nay, các anh chỉ có một mình thui thủi với cái giường bệnh và chiếc xe lăn. Cảm thấy thương các anh vô hạn. Giả sử đến lúc nào đó, vết thương của mình tái phát nặng hơn, không đi được nữa mà phải vào Trung tâm điều dưỡng thương binh thì quả là buồn thật.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi tự thấy mình vẫn còn may mắn hơn các thương binh nặng khác rất nhiều, vì bên cạnh tôi luôn có một người vợ tảo tần, thủy chung và các con yêu thương chăm sóc từng ngày. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy lòng mình vui vẻ và tự hào, tôi nhìn vợ yêu quý bằng ánh mắt trấn an tinh nghịch:

- Em cứ yên tâm. Sướng hay khổ trên đời này cũng có số của nó cả em à. Thôi, ta cứ lạc quan mà làm theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, không phải nghĩ ngợi xa xôi làm gì cho bạc tóc.

Trời đã về khuya. Gió mùa Đông Bắc ngoài kia lại rít lên từng cơn buốt giá. Vết mổ sau lưng và mảnh đạn thứ hai sát cột sống lại bắt đầu âm ỉ hành hạ tôi bằng những nhịp nhói buốt sắc lẹm. Tôi cố cắn răng nằm im, điều hòa nhịp thở, cố nén cái đau để người vợ thân yêu nằm bên cạnh đỡ phải lo nghĩ, mất ngủ. Tôi biết, mấy hôm nay và cả những chuỗi ngày sắp tới, cô ấy sẽ còn lo lắng cho tôi nhiều lắm - nỗi lo âu trĩu nặng nhưng đầy ắp tình thương của người vợ lính đối với chiếc cột sống mang đầy chứng tích chiến tranh của chồng mình...

Đại tá Cung Thế Đăng, nguyên Đại đội trưởng, Đai đội1 (trái), Đại tá Lê Ngoc Châu, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1 (giữa)

Trung tá Lê Bá Quặng, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1

Từ khóa
#Sắt son đời lính trận - Chương II - Ký ức đẹp từ giường bệnh
Dương Thanh Biểu

Dương Thanh Biểu

Tác giả
• CÙNG CHUYÊN ĐỀ

Tác Phẩm & Bài Viết Liên Quan

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế Truyện ký
17.09.2026 • 10 lượt xem

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế

Hẹn nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm...

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng Tiểu thuyết
17.09.2026 • 8 lượt xem

TT Hoa dành ngày gặp lại. NV Bùi Việt Thắng

NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI... (Ấn tượng đọc “Hoa dành ngày gặp mặt”, tiểu thuyết của nhà văn Dương Thanh...

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Truyện ký
17.09.2026 • 9 lượt xem

Săt son đời lính trận. Chương III. MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH

MỐI LƯƠNG DUYÊN NHƯ CHUYỆN CỔ TÍCH Vào một buổi trưa cuối hạ, không khí Thủ đô ngột ngạt đến mức...

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời Truyện ký
17.09.2026 • 8 lượt xem

Tạ Đình Đề - những góc khuất cuộc đời

Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm...

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước Văn xuôi
17.09.2026 • 10 lượt xem

Sắt sơn đời lính trận. Chương IV. Cuộc gặp không hẹn trước

CUỘC GẶP KHÔNG HẸN TRƯỚCHà Nội những ngày đầu đông luôn mang một vẻ đẹp cổ kính và kiêu hãnh đến...